Muốn đón tập đoàn lớn, khu công nghiệp phải xây năng lực trước
Năm 2025, Việt Nam thu hút khoảng 38,4 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 54,7%. Nhưng nếu mỗi khu công nghiệp tiếp tục chỉ tìm những dự án vừa với hạ tầng sẵn có của mình, chúng ta sẽ mãi đứng ngoài những ngành mà mình muốn thu hút. Bài toán của giai đoạn 2026-2045 là xây năng lực trước, rồi mới mời tập đoàn.
Nếu FDI là một nguồn lực cho phát triển thì khu công nghiệp chính là không gian trực tiếp tổ chức, kết nối và chuyển hóa nguồn lực ấy thành năng lực sản xuất, công nghệ, việc làm, xuất khẩu và giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Điều cần nhấn mạnh là Việt Nam không chỉ cần những khu công nghiệp có khả năng tiếp nhận thêm dự án FDI, mà cần những khu công nghiệp làm cho các dự án ấy hoạt động hiệu quả hơn, liên kết sâu hơn với doanh nghiệp Việt Nam và đóng góp lớn hơn vào năng lực phát triển quốc gia.
Muốn xác định đúng hướng đi cho giai đoạn mới, cần trả lời một câu hỏi căn bản. Khu công nghiệp Việt Nam hiện nay đang được xây dựng chủ yếu để cho thuê đất và nhà xưởng, hay đã trở thành nền tảng tạo ra năng lực công nghiệp mới? Hai mô hình có thể cùng tồn tại, nhưng mục tiêu phát triển và giá trị mang lại rất khác nhau.
Mô hình truyền thống phát triển quỹ đất, hạ tầng giao thông, điện, nước và nhà xưởng, rồi đo thành công bằng diện tích cho thuê, tỷ lệ lấp đầy, vốn đăng ký và số dự án. Mô hình này có vai trò lịch sử quan trọng trong quá trình mở cửa và công nghiệp hóa vừa qua. Mô hình đáp ứng FDI thế hệ mới đòi hỏi khác hẳn: hạ tầng vật chất đi cùng hạ tầng số, năng lượng sạch và dịch vụ kỹ thuật; thu hút có chọn lọc các tập đoàn công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và nghiên cứu phát triển; kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam, trường đại học và viện nghiên cứu; đo lường bằng năng suất, giá trị gia tăng nội địa, chất lượng nhân lực, đổi mới công nghệ và hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Quy mô FDI hiện nay cho thấy sự cần thiết của bước chuyển ấy. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, năm 2025 Việt Nam thu hút khoảng 38,4 tỷ USD vốn đăng ký, vốn thực hiện đạt khoảng 27,62 tỷ USD. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút khoảng 21 tỷ USD, tương đương 54,7% tổng vốn đăng ký. Chế biến chế tạo vẫn là trụ cột của FDI Việt Nam, nhưng điều đó đặt ra yêu cầu khu công nghiệp phải phát triển nhanh hơn về chất lượng, chứ không chỉ mở rộng về quy mô đất đai. Đây cũng là định hướng đã được khẳng định tại Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành tháng 6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
6 yêu cầu mới và 10 khoảng trống cần tự kiểm
Từ thực trạng hệ thống khu công nghiệp hiện nay, có 6 yêu cầu cần được xem xét đồng thời. Thứ nhất là chuyển từ thu hút nhà máy sang thu hút năng lực công nghệ, tức có khả năng tiếp nhận các dự án bán dẫn, điện tử thế hệ mới, thiết bị tự động hóa, công nghệ sinh học, vật liệu mới và trung tâm dữ liệu. Nhưng không phải khu công nghiệp nào cũng phải theo đuổi bán dẫn. Một khu cơ khí chính xác, chế biến thực phẩm hoặc công nghiệp hỗ trợ vẫn có giá trị lớn nếu làm chủ được công nghệ, nâng năng suất và phát triển chuỗi cung ứng. Việc cần làm là xây dựng danh mục ngành mục tiêu cho từng khu, gắn với năng lực hạ tầng, lao động, thị trường và hệ sinh thái doanh nghiệp của địa phương.
Thứ hai là bảo đảm hạ tầng năng lượng và kỹ thuật có chất lượng. FDI công nghệ cao đòi hỏi nguồn điện ổn định, cấp nước đạt yêu cầu, xử lý nước thải, viễn thông tốc độ cao và logistics tin cậy; với một số ngành, khả năng bảo đảm điện liên tục và đáp ứng yêu cầu giảm phát thải có thể quyết định việc chọn địa điểm.
Thứ ba là chuyển từ lợi thế lao động chi phí thấp sang nhân lực kỹ năng cao, bởi nhà máy hiện đại cần kỹ sư, chuyên gia tự động hóa, kỹ thuật viên và chuyên gia dữ liệu. Nếu khu công nghiệp chỉ cung cấp mặt bằng mà không góp phần giải quyết nhu cầu nhân lực, khả năng tiếp nhận dự án công nghệ cao sẽ bị hạn chế.
Thứ tư, và đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng với Việt Nam, là chuyển từ các nhà máy hoạt động riêng lẻ sang hệ sinh thái công nghiệp. Một khu có nhiều doanh nghiệp FDI chưa chắc đã hình thành được hệ sinh thái. Các nhà máy có thể cùng nằm trên một địa bàn nhưng vẫn nhập phần lớn linh kiện, nguyên liệu và dịch vụ kỹ thuật từ bên ngoài. Mục tiêu không phải ép buộc FDI mua hàng trong nước bằng mọi giá, mà nâng năng lực doanh nghiệp Việt Nam để họ cạnh tranh và tham gia được chuỗi cung ứng.
Thứ năm là chuyển sang khu công nghiệp sinh thái, thông minh và tuần hoàn, theo hướng dẫn tại Thông tư 05/2025/TT-BKHĐT có hiệu lực từ ngày 15/3/2025. Cộng sinh công nghiệp nghĩa là phụ phẩm, nhiệt thừa hoặc nước của doanh nghiệp này trở thành đầu vào hữu ích cho doanh nghiệp khác khi đáp ứng đủ yêu cầu kỹ thuật và môi trường. Việc cần làm là chuyển các yêu cầu sinh thái từ khẩu hiệu thành dự án cụ thể, có phương án đầu tư và chỉ tiêu tiết kiệm.
Thứ sáu là chuyển từ kinh doanh bất động sản công nghiệp sang cung cấp dịch vụ phát triển công nghiệp, với các dịch vụ tuyển dụng, đào tạo, logistics, hỗ trợ thủ tục, chuyển đổi số, kết nối nhà cung cấp, tài chính chuỗi cung ứng và tư vấn chuyển đổi xanh.
Đối chiếu 6 yêu cầu trên với thực tế, có thể nhận diện 10 khoảng trống. Về quy hoạch, nhiều khu chưa có danh mục ngành mục tiêu và tiêu chí lựa chọn dự án cụ thể, dẫn tới thu hút dàn trải, khó tạo cụm ngành. Về hạ tầng, điện, nước, xử lý môi trường, logistics hoặc kết nối ngoài hàng rào còn hạn chế, làm tăng chi phí và rủi ro vận hành. Về nhân lực, doanh nghiệp phải tự đào tạo nhiều và khó tuyển kỹ sư, kỹ thuật viên. Về liên kết nội địa, ít nhà cung cấp Việt Nam đạt chuẩn và thiếu chương trình phát triển nhà cung cấp, khiến giá trị gia tăng trong nước thấp.
6 khoảng trống còn lại nằm ở dịch vụ đổi mới công nghệ, khi ít hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường và kiểm định; chuyển đổi xanh chưa thực chất, do thiếu dữ liệu năng lượng, phát thải, nước và kế hoạch giảm phát thải; năng lực quản trị còn hẹp, chủ yếu quản lý đất đai, xây dựng và tiện ích cơ bản; khó tiếp cận tài chính chuyển đổi, thiếu vốn dài hạn cho năng lượng sạch và công nghệ; thiếu dữ liệu quản trị, chưa theo dõi đồng bộ hiệu quả đầu tư, việc làm, năng suất và liên kết nội địa; cùng cơ chế phối hợp phân tán giữa chủ đầu tư, doanh nghiệp, địa phương, cơ sở đào tạo và đơn vị tài chính.
Cần nói rõ, đây là khung chẩn đoán để khảo sát thực tế, không phải kết luận rằng khu công nghiệp nào cũng có đủ mười khoảng trống. Mức độ và thứ tự ưu tiên phải xác định theo từng địa bàn, loại hình khu và nhóm ngành. Có hai điểm cần đặc biệt lưu ý. Một là không thể yêu cầu khu công nghiệp giải quyết mọi hạn chế của nền kinh tế, bởi hệ thống điện quốc gia, giao thông liên vùng, chất lượng giáo dục nghề nghiệp và thể chế đầu tư đều cần sự tham gia của Nhà nước cùng các chủ thể liên quan. Hai là không thể coi tỷ lệ lấp đầy cao là bằng chứng đầy đủ về chất lượng. Một khu có tỷ lệ lấp đầy thấp nhưng đang chuẩn bị hạ tầng cho ngành công nghệ cao cần được đánh giá khác với một khu đã hoạt động lâu năm mà chưa nâng cấp được năng lực sản xuất.
Xây năng lực trước rồi mới mời tập đoàn
Hai văn kiện đang định hình việc lựa chọn dòng vốn. Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu thu hút 40-50 tỷ USD vốn đăng ký mỗi năm đến năm 2030, tập trung vào năm nhóm lĩnh vực gồm điện tử, bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và Internet vạn vật; công nghệ sinh học và y học tiên tiến; năng lượng sạch và vật liệu mới; logistics hiện đại và dịch vụ giá trị cao. Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu tự chủ chiến lược song hành với thu hút vốn, tiếp nối tinh thần Nghị quyết 50-NQ/TW năm 2019. Trước đó, Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030 ban hành kèm Quyết định 667/QĐ-TTg ngày 2/6/2022 đặt mục tiêu tăng 50% số tập đoàn đa quốc gia thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới hoạt động tại Việt Nam.
Nhưng tiếp cận các tập đoàn toàn cầu không thể chỉ là việc của cơ quan xúc tiến đầu tư cấp quốc gia hay từng địa phương. Nó đòi hỏi sự ăn khớp giữa ba cấp: chiến lược quốc gia lựa chọn ngành, công nghệ và tập đoàn mục tiêu; năng lực tiếp nhận của khu công nghiệp về đất đai, điện nước, nhân lực, logistics và hệ sinh thái nhà cung cấp; cùng cam kết của chính tập đoàn FDI về sản xuất, đào tạo, nghiên cứu phát triển, phát triển nhà cung cấp và nâng cấp công nghệ.
Ở đây có một nguyên tắc mà theo tôi là điểm then chốt. Không nên chỉ chọn những tập đoàn phù hợp với lợi thế hiện có của khu công nghiệp, mà phải xác định những năng lực khu công nghiệp cần xây dựng để đón được các tập đoàn Việt Nam muốn thu hút trong tương lai. 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên của Nghị quyết 10 chính là bài kiểm tra cụ thể cho từng khu. Nếu muốn đón các tập đoàn bán dẫn, một khu công nghiệp không thể chỉ quảng bá mặt bằng và ưu đãi, mà phải đánh giá thực chất khả năng cung cấp điện, nước siêu sạch theo yêu cầu, kiểm soát môi trường, nhân lực kỹ thuật, logistics, các nhà cung cấp đủ chuẩn và khả năng mở rộng dài hạn. Với cơ khí chính xác hay điện tử, yêu cầu lại khác. Chiến lược quốc gia vì vậy phải được chuyển hóa thành kế hoạch phát triển năng lực của từng khu, thay vì một danh mục ngành chung áp dụng cho tất cả.
Từ góc độ nghiên cứu, tôi cho rằng Việt Nam cần một mô hình khu công nghiệp kết nối được 5 cấu phần: hạ tầng công nghiệp; công nghệ và đổi mới; nhân lực; chuỗi cung ứng; cùng tài chính, quản trị và chuyển đổi xanh. 5 cấu phần này không nhất thiết do một chủ đầu tư cung cấp trực tiếp, điều cốt yếu là phải có cơ chế điều phối để chúng thực sự kết nối. Một khu có thể hợp tác với trường đại học để đào tạo nhân lực, với ngân hàng để tài trợ dự án năng lượng sạch, với doanh nghiệp công nghệ để triển khai nhà máy thông minh và với hiệp hội ngành hàng để phát triển nhà cung cấp Việt Nam. Khi đó giá trị của khu công nghiệp không còn nằm ở diện tích đất cho thuê mà ở khả năng tổ chức hệ sinh thái.
Giai đoạn 2026-2030 không nên bắt đầu bằng một chương trình chuyển đổi quá rộng và tốn kém, mà nên chọn các khu có điều kiện phù hợp rồi mở rộng theo kết quả. Có 4 nhóm việc triển khai được ngay: đánh giá lại từng khu để lập hồ sơ năng lực và kế hoạch phát triển riêng; xây dựng chương trình liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam, đi từ khảo sát nhu cầu mua hàng của các doanh nghiệp FDI chủ lực đến nâng cấp tiêu chuẩn và công nghệ cho nhà cung cấp trong nước; phát triển nhân lực và dịch vụ công nghệ qua cơ chế phối hợp đào tạo cùng các trung tâm kiểm định, thử nghiệm; và khơi thông tài chính cho chuyển đổi bằng các dự án khả thi về điện sạch, tiết kiệm năng lượng, xử lý nước và hạ tầng số. Thước đo của nhóm thứ hai nên là số doanh nghiệp Việt Nam đạt chuẩn, số hợp đồng cung ứng mới và giá trị mua hàng trong nước ghi nhận được.
Về cơ chế chính sách, Luật Đầu tư năm 2025, số 143/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, đã mở rộng các hình thức hỗ trợ đầu tư, bao gồm hạ tầng, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Đây là cơ sở để thiết kế những chương trình hỗ trợ phù hợp. Điều cần tránh là lập thêm các trung tâm hoặc chương trình chỉ để có tên gọi. Mỗi sáng kiến phải xuất phát từ nhu cầu đã được doanh nghiệp xác nhận, có nguồn lực, có đơn vị chịu trách nhiệm và có chỉ tiêu đánh giá.
Cuối cùng, và đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định, phải thay đổi cách đo hiệu quả khu công nghiệp. Nếu tiếp tục đánh giá chủ yếu bằng diện tích cho thuê, tỷ lệ lấp đầy và vốn FDI đăng ký thì khó biết khu công nghiệp có thực sự nâng cao chất lượng tăng trưởng hay không. Tôi đề xuất bộ chỉ tiêu sáu nhóm, gồm hiệu quả sử dụng đất, đo bằng tỷ lệ lấp đầy và giá trị gia tăng trên mỗi hecta; hiệu quả kinh tế, gồm giá trị gia tăng, năng suất lao động, việc làm có kỹ năng và hiệu quả sử dụng vốn; chất lượng FDI, gồm cơ cấu ngành công nghệ, chức năng nghiên cứu phát triển và đào tạo tại chỗ; liên kết nội địa, gồm số nhà cung cấp Việt Nam đạt chuẩn và giá trị mua hàng nội địa có thể xác minh; hiệu quả xanh, gồm cường độ sử dụng điện, nước, phát thải và mức tái sử dụng tài nguyên; cùng năng lực hệ sinh thái, gồm chất lượng dịch vụ công nghiệp và hợp tác đào tạo, nghiên cứu.
Các chỉ tiêu này phải được chuẩn hóa về khái niệm, phạm vi và cách thu thập dữ liệu. Không thể đồng nhất tổng doanh thu của các doanh nghiệp với giá trị gia tăng do khu công nghiệp tạo ra, cũng không nên coi tỷ lệ mua hàng nội địa là chỉ tiêu đơn giản nếu chưa phân biệt nguồn gốc và giá trị thực sự tạo ra trong nước. Nên xây dựng đường cơ sở trước khi đặt mục tiêu định lượng cho các mốc 2030, 2035 và 2045, và các khu khác nhau cần mục tiêu khác nhau thay vì một bộ chỉ tiêu đồng nhất.
Theo hướng đó, lộ trình có thể chia 3 giai đoạn. Giai đoạn 2026-2030 đặt nền móng, hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá, chọn một số khu thí điểm, ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn về điện, logistics, nhân lực, môi trường và khởi động chương trình phát triển nhà cung cấp. Giai đoạn 2031-2035 nhân rộng mô hình sinh thái, thông minh và chuyên ngành, tăng liên kết giữa khu công nghiệp với trường đại học, trung tâm nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước. Giai đoạn 2036-2045 hướng tới các cụm công nghiệp tích hợp sản xuất, công nghệ, nghiên cứu phát triển, nhân lực và dịch vụ tài chính, thu hút cả hoạt động thiết kế và chức năng chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia. Đây là lộ trình mang tính đề xuất, không phải các mốc đã được cơ quan nhà nước phê duyệt.
Việt Nam đã trải qua một giai đoạn cần phát triển khu công nghiệp để thu hút được nhiều dự án FDI. Giai đoạn tới đòi hỏi tiến thêm một bước, phát triển khu công nghiệp để nâng chất lượng FDI, tăng năng lực doanh nghiệp Việt Nam và tạo giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế. Khu công nghiệp sẽ có vai trò chiến lược hơn khi không chỉ là nơi các tập đoàn nước ngoài đặt nhà máy, mà còn là nơi doanh nghiệp Việt Nam học hỏi, đổi mới, tham gia chuỗi cung ứng và từng bước làm chủ công nghệ của chính mình.
TS. Phan Hữu Thắng
Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính)

Người mua vàng miếng lỗ khoảng 1,7 triệu đồng/lượng sau 1 tuần
SHB khẳng định hoạt động ổn định, triển khai tăng vốn đúng quy định, đa dạng hóa nguồn lực tài chính
Người vay theo cơ chế thả nổi 'sốc' với mức lãi gần 20%
Đại công trường 17 tòa khách sạn hạng sang ở Phú Quốc tăng tốc trước thềm APEC 2027

Người mua nhà mắc kẹt giữa giá nhà và lãi suất
Giá vàng trong nước vọt tăng, thêm tới 1,8 triệu đồng/lượng
Khi người trẻ Hà Nội tính lại bài toán chọn nhà
Đất bỏ hoang bị đánh thuế: Giới đầu cơ không lo thì ai lo?
Việt Nam - Lào ký kết 17 văn kiện hợp tác kinh tế, hướng tới kim ngạch 10 tỷ USD
Chiều 8/10, trong chuyến thăm chính thức Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Lào Saleumxay Kommasith đồng chủ trì Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam - Lào, thống nhất thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư trở thành trụ cột tương xứng với quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước.
Đừng bỏ lỡ
Sợi lanh "dệt sinh kế" cho phụ nữ vùng cao
Từ nghề dệt truyền thống của người Mông, HTX Mường Hoa (xã Tả Van, tỉnh Lào Cai) đang tổ chức lại sản xuất, tạo việc làm và mở rộng đầu ra cho phụ nữ vùng cao. Những sợi lanh, sắc chàm và đường thêu không chỉ được gìn giữ như giá trị văn hóa, mà...


































