VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Việt Nam

Lo nhà đầu tư nước ngoài được kinh doanh những ngành Việt Nam chưa mở cửa

Lo nhà đầu tư nước ngoài được kinh doanh những ngành Việt Nam chưa mở cửa

Theo VCCI, đối với các ngành nghề mà Việt Nam bảo lưu chưa mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường, quy định về “nhà đầu tư nước ngoài” bất hợp lý tại Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư có thể làm vô hiệu hóa mục tiêu bảo lưu nói trên.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý về Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư.

Việt Nam chưa cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia lĩnh vực khai thác hải sản.
Việt Nam chưa cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia lĩnh vực khai thác hải sản.

VCCI cho biết theo quy định tại khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư thì “nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức kinh tế được thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”. Như vậy, đây rõ ràng là nhóm chủ thể phải áp dụng các quy định về ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Dự thảo này.

Tuy nhiên, với trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì vấn đề không như vậy. Cụ thể, theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư thì “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. Luật Đầu tư không xác định tổ chức này là “nhà đầu tư nước ngoài” hay không.

Như vậy, liên quan tới trường hợp tổ chức kinh tế có một phần vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam có 2 lựa chọn quy định (mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ cam kết quốc tế liên quan nào về vấn đề này), bao gồm: Tổ chức kinh tế dù có 1 đồng vốn nước ngoài cũng sẽ bị coi là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có một phần vốn nhất định (ở mức nào đó do Nhà nước quy định) là của nước ngoài thì sẽ bị coi là nhà đầu tư nước ngoài.

Dự thảo hiện đang quy định theo lựa chọn thứ hai là tổ chức kinh tế có mức vốn nước ngoài chiếm đa số (trên 50%) thì được coi là nhà đầu tư nước ngoài.

Theo VCCI, lựa chọn này của Dự thảo có điểm tích cực là: Tự do hóa đầu tư cho nước ngoài ở mức cao. Tương đồng với cách quy định của Luật Đầu tư liên quan tới thủ tục đăng ký đầu tư áp dụng với nhà đầu tư có một phần vốn nước ngoài (chú ý ngay cả Luật Đầu tư cũng không định nghĩa đây là nhà đầu tư nước ngoài, mà chỉ là nhìn từ góc độ thủ tục đầu tư).

Tuy nhiên, cách lựa chọn này lại có một số điểm bất cập liên quan tới tính thống nhất về mục tiêu trong đàm phán và thực thi các cam kết quốc tế. Cụ thể: Đối với các ngành nghề mà Việt Nam bảo lưu chưa mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường, quy định về “nhà đầu tư nước ngoài” như thế này có thể làm vô hiệu hóa mục tiêu bảo lưu nói trên.

Ví dụ, Việt Nam chưa cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia lĩnh vực khai thác hải sản. Tuy nhiên, với quy định này của Dự thảo, một nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần thành lập một liên doanh với Việt Nam với mức vốn 50% trong một lĩnh vực nào đó được mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài; sau đó liên doanh này (lúc này là nhà đầu tư trong nước theo quy định tại Dự thảo) sẽ được phép đầu tư vào lĩnh vực khai thác hải sản.

Đối với các ngành nghề mà Việt Nam mới chỉ cam kết mở cửa cho liên doanh ở mức từ 50% vốn nước ngoài trở xuống (ví dụ cam kết EVFTA về ngân hàng, chứng khoán, vận tải biển, xếp dỡ container, vận tải thủy nội địa, dịch vụ mặt đất trong lĩnh vực hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ,…), mục tiêu hạn chế của các cam kết này cũng có thể bị vô hiệu hóa theo cách tương tự.

Vì vậy, VCCI đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc thật kỹ lựa chọn phương án xác định nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp nhà đầu tư có một phần vốn nước ngoài và cần bảo đảm sự thống nhất tối đa trong cách tiếp cận giữa đàm phán và thực hiện các cam kết liên quan.

Lê Thúy 

}
VnBusiness