Lãi suất cho vay giảm, doanh nghiệp vẫn cần vốn dài hạn
Nhiều ngân hàng giảm lãi suất cho vay 1,5-2%/năm, thậm chí tới 3%/năm, tạo thêm dư địa giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, với doanh nghiệp, bài toán không chỉ là lãi suất thấp mà còn là khả năng tiếp cận nguồn vốn trung, dài hạn phù hợp với chu kỳ đầu tư.
Tính đến ngày 28/10/2026, phần lớn ngân hàng đã công bố giảm lãi suất huy động theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Mức giảm phổ biến là 0,5 điểm phần trăm/năm, áp dụng với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Đối với lãi suất cho vay, mức giảm được nhiều ngân hàng công bố từ 1,5-2 điểm phần trăm/năm, thậm chí lên tới 3 điểm phần trăm/năm.
Áp lực dòng tiền và nhu cầu vốn dài hạn
Với các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng công nghiệp, khó khăn không chỉ nằm ở chi phí vay mà còn ở khoảng cách giữa thời điểm chi tiền mua hàng và thời điểm thu tiền từ khách hàng.
Bà Trần Thị Thương Huyền, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Bách Liên (VietMRO), từng chia sẻ rằng hoạt động cung ứng vật tư, thiết bị cho các nhà máy công nghiệp thường phát sinh độ trễ đáng kể trong thanh toán. Doanh nghiệp có thể phải trả tiền cho nhà cung cấp ngay, trong khi khách hàng thanh toán sau 30, 60 hoặc 90 ngày, thậm chí kéo dài tới 180 ngày.
Khoảng thời gian chờ thu tiền buộc doanh nghiệp phải chủ động nguồn vốn để duy trì hoạt động cung ứng liên tục. Nếu thiếu vốn lưu động, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn ngay cả khi đã có đơn hàng và đầu ra tương đối rõ ràng.
Để giải quyết bài toán này, VietMRO đã tiếp cận các hình thức cấp tín dụng dựa trên uy tín, hợp đồng và doanh số bán hàng. Theo bà Huyền, doanh nghiệp từng được một số ngân hàng cấp tín dụng với các điều kiện bảo đảm khác nhau, trong đó có phương thức tài trợ theo hóa đơn, giúp chủ động nguồn vốn gắn với giao dịch bán hàng.
Tuy nhiên, vốn lưu động chỉ giải quyết một phần nhu cầu. Khi đầu tư nhà xưởng, máy móc, thiết bị và công nghệ mới, doanh nghiệp cần nguồn vốn trung, dài hạn, có kỳ hạn phù hợp với thời gian triển khai dự án và thu hồi vốn.
Đây là vấn đề đáng chú ý đối với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, vốn phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, tiến độ và năng lực cung ứng. Nếu nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn, doanh nghiệp có thể tiếp tục chịu áp lực cân đối dòng tiền trong khi các khoản đầu tư cần nhiều năm mới phát huy hiệu quả.
Bà Huyền cho rằng chi phí vốn ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của các nhà cung ứng trong nước. Khi lãi suất vay cao, doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn hơn trong cạnh tranh với các nhà cung cấp đến từ Nhật Bản, Trung Quốc và châu Âu.
Do đó, bên cạnh giảm lãi suất, doanh nghiệp mong muốn phát triển các cơ chế tín dụng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng và quỹ đầu tư phát triển để tiếp cận nguồn vốn phù hợp hơn với đặc thù hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước, quốc tế.
Trong khi đó, với các ngân hàng, việc giảm lãi suất cho vay cũng tạo áp lực lên biên lãi thuần (NIM), nhất là khi lãi suất cho vay giảm nhanh hơn lãi suất huy động.
Theo phân tích của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), những ngân hàng có tỷ trọng cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh lớn sẽ chịu sức ép đáng kể từ yêu cầu giảm lãi suất. Tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh tại VietinBank đạt khoảng 66%, MB khoảng 57%, Vietcombank khoảng 56% và BIDV khoảng 51%.
Dù vậy, mức độ ảnh hưởng đến NIM toàn ngành chưa thể xác định chính xác, bởi các ngân hàng chủ yếu giảm lãi suất thông qua những gói tín dụng có quy mô và thời hạn cụ thể. Do đó, phần dư nợ thực tế được giảm lãi suất 1,5-2 điểm phần trăm/năm có thể thấp hơn nhiều so với tổng dư nợ.
Chẳng hạn, BIDV công bố gói tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 4% tổng dư nợ. Gói tín dụng ưu đãi tại Sacombank có quy mô 40.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 6% dư nợ, trong khi Vietbank triển khai gói 3.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 2,5% dư nợ. Một số ngân hàng khác cũng có các gói tín dụng ưu đãi chiếm khoảng 2-5% tổng dư nợ.
Theo chuyên gia phân tích của Công ty Chứng khoán TCBS, nếu phần dư nợ được giảm lãi suất 1,5-2 điểm phần trăm/năm chiếm 3-5% danh mục cho vay, NIM toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03-0,07%, lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 2-4%. Việc lãi suất huy động niêm yết giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm sẽ bù đắp một phần tác động này.
Tác động cũng không đồng đều giữa các ngân hàng. Nhóm ngân hàng quốc doanh có thể chịu sức ép lớn hơn do đi đầu thực hiện chủ trương giảm lãi suất, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay vốn đã thấp và dư địa giảm không còn nhiều. Ngược lại, những ngân hàng có chi phí vốn cao, phụ thuộc vào tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất cao có thể được hưởng lợi khi chi phí huy động giảm.
Doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro
Tuy nhiên, TCBS nhận định lãi suất huy động thực tế khó giảm sâu do nhu cầu vay vốn vẫn cao. Điều này đồng nghĩa khả năng giảm chi phí vốn của các ngân hàng có thể bị hạn chế, trong khi áp lực giảm lãi suất cho vay vẫn hiện hữu.
Trong bối cảnh lãi suất còn biến động, doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào các đợt giảm lãi suất mà cần chủ động quản trị dòng tiền và rủi ro tài chính.
Chuyên gia nêu ba việc phải làm ngay. Thứ nhất, lập kế hoạch dòng tiền trả cả gốc lẫn lãi từng tháng và thử kịch bản lãi suất cao hơn hai điểm phần trăm. Thứ hai, rà soát hàng tồn kho, công nợ phải thu, bởi thu được tiền về sớm đôi khi tốt hơn chờ giảm lãi vay. Thứ ba, làm việc sớm với ngân hàng về kỳ hạn và lịch trả nợ, kể cả phương án ân hạn nợ gốc nếu phù hợp, nhưng đừng vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn mà chưa có nguồn trả nợ rõ ràng.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Minh Nhựt, Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Thương mại Luminous, cho biết doanh nghiệp đang tận dụng tốc độ triển khai công trình để sớm thu hồi vốn từ doanh thu bán sản phẩm. Tại dự án đang thực hiện, chi phí vốn đã được tính toán và chuẩn bị chặt chẽ, qua đó giúp chủ đầu tư kỳ vọng hạn chế ảnh hưởng từ biến động lãi suất và tình hình kinh tế vĩ mô.
Cách tiếp cận này cho thấy việc kiểm soát tiến độ, dòng tiền và chi phí vốn có vai trò quan trọng trong khả năng ứng phó với biến động thị trường. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, yêu cầu càng trở nên cấp thiết khi khả năng tiếp cận nguồn vốn thường phụ thuộc vào năng lực tài chính, tài sản bảo đảm và phương án kinh doanh.
Giảm lãi suất cho vay là một giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong ngắn hạn. Tuy nhiên, để thúc đẩy đầu tư và nâng cao năng lực sản xuất, cần có các nguồn tín dụng trung, dài hạn phù hợp với chu kỳ thu hồi vốn, cùng cơ chế bảo lãnh và phương thức cấp tín dụng linh hoạt hơn.
Khi chi phí vốn được cải thiện đồng thời với khả năng tiếp cận tín dụng phù hợp, doanh nghiệp mới có thêm điều kiện duy trì dòng tiền, đầu tư công nghệ và mở rộng sản xuất một cách bền vững.
Huyền Anh

Cổ đông ngoại liên tiếp giảm sở hữu giữa lúc KIDO tái cấu trúc mảng kem
Lợi nhuận doanh nghiệp dược quý III/2026 phân hóa mạnh
FPT mất hơn 53% giá trị từ vùng đỉnh, gần 122.000 tỷ đồng vốn hóa bốc hơi
KOS chưa thoát vòng xoáy giảm sàn, áp lực giải chấp gia tăng

Người mua nhà tiếp tục 'dò đáy', cách nào kích thanh khoản?
Bất động sản Đà Nẵng tiếp tục phân hóa mạnh?
Ở Vinhomes Royal Island, mỗi thế hệ có thêm một lý do muốn về nhà
Chiết khấu ‘khủng’ có thực sự tốt cho người mua nhà?
Biểu giá điện từ 6 bậc còn 5 bậc: Ai được lợi, ai trả thêm?
Bộ Công Thương đề xuất sớm áp dụng biểu giá điện sinh hoạt 5 bậc thay cho 6 bậc hiện hành. Theo tính toán sơ bộ, khoảng 94% khách hàng có thể giảm tiền điện, trong khi những hộ tiêu thụ trên 778 kWh/tháng sẽ phải trả nhiều hơn.
Đừng bỏ lỡ
Giảm lãi suất cho vay, tiếp sức doanh nghiệp tăng tốc cuối năm
Các ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất cho vay từ 1,5% đến 2% một năm, kỳ vọng giảm chi phí tài chính, khơi thông dòng vốn và tạo động lực cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh trong những tháng cuối năm.


































