VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Doanh nghiệp vào mùa cao điểm: Dòng vốn không thể chậm một nhịp

Doanh nghiệp vào mùa cao điểm: Dòng vốn không thể chậm một nhịp

Cao điểm sản xuất, xuất khẩu đang đến gần trong 4 tháng cuối năm, nhưng với nhiều doanh nghiệp, áp lực không chỉ nằm ở thị trường mà còn ở khả năng xoay vòng vốn. Khi tài sản thế chấp ngày càng hạn chế, bài toán đặt ra là tín dụng phải bám sát dòng tiền, chuỗi cung ứng và nhu cầu thực tế, để nguồn lực đến đúng lúc.

Bốn tháng cuối năm thường là giai đoạn doanh nghiệp (DN) tăng tốc sản xuất, kéo theo nhu cầu vốn cho nguyên liệu, lưu kho và xuất khẩu. Với thủy sản, nông sản, dệt may, đồ gỗ hay công nghiệp hỗ trợ, dòng vốn chậm một nhịp có thể khiến cả chuỗi sản xuất chậm lại.

Vốn cần đi sát hơn với nhịp sản xuất

Để dòng vốn theo kịp nhịp sản xuất, khả năng tiếp cận tín dụng trở thành vấn đề cần được tháo gỡ. Trao đổi với VnBusiness, chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng nhấn mạnh đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng với hoạt động xuất khẩu và sản xuất tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, nghịch lý là nhiều DN rất cần vốn nhưng lại khó đáp ứng các điều kiện vay.

Doanh nghiệp cần dòng vốn bám sát dòng tiền và chu kỳ sản xuất, nhất là trong mùa cao điểm 4 tháng cuối năm.
Doanh nghiệp cần dòng vốn bám sát dòng tiền và chu kỳ sản xuất, nhất là trong mùa cao điểm 4 tháng cuối năm.

Riêng tại TP.HCM, theo ông Dũng, không ít DN nhỏ và vừa đã thế chấp phần lớn tài sản, hoặc tài sản không còn phù hợp để làm cơ sở vay mới. Trong khi đó, nhu cầu dòng vốn lại xuất hiện ngay trước mắt: nguyên liệu phải mua, nhà máy phải vận hành, người lao động phải được trả lương và hàng hóa phải hoàn thành đúng tiến độ.

“Điều này cho thấy câu chuyện không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu vốn hay lãi suất bao nhiêu, mà còn ở cách nguồn vốn được đưa vào quá trình sản xuất. Một khoản vay có chi phí thấp nhưng đến quá muộn vẫn không giải quyết được nhu cầu”, ông Dũng nói.

Dòng vốn vì thế phải theo suốt chuỗi sản xuất - kinh doanh, từ nguyên liệu, sản xuất đến xuất khẩu và thu hồi tiền. Nếu từng khâu bị tách rời, DN vẫn có thể thiếu vốn dù có đầu ra. Ngược lại, nhìn được dòng tiền toàn chuỗi sẽ giúp ngân hàng thiết kế sản phẩm tài chính sát nhu cầu hơn.

Theo hướng này, ngân hàng đang chuyển từ cho vay đơn lẻ sang giải pháp tài chính theo chuỗi. Ông Bạch Thành Long, Phó Chủ tịch một ngân hàng thương mại cổ phần, cho biết 4 trọng tâm gồm tín dụng xuất khẩu; thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại và phòng ngừa rủi ro; tài trợ chuỗi cung ứng; cùng ngân hàng số và tài chính xanh.

Trong 4 tháng cuối năm, nhu cầu vốn tăng mạnh theo đơn hàng, nguyên liệu và tiến độ giao hàng. DN cần nguồn vốn đến đúng thời điểm, trong khi ngân hàng cần thiết kế tín dụng sát hơn với chu kỳ sản xuất và dòng tiền.

Cách tiếp cận như vậy đặt dòng vốn vào đúng nhịp của hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ tập trung vào quy mô khoản vay. Khi đó, câu hỏi không chỉ là “cho vay bao nhiêu”, mà còn là vốn vào chuỗi lúc nào và dựa trên dữ liệu nào.

Chi phí vốn cũng đang có thêm dư địa hỗ trợ DN. Theo Công ty chứng khoán WikkiBanks, nhiều ngân hàng đã triển khai tín dụng ưu đãi, với lãi suất giảm khoảng 0,5-1%/năm. Vietcombank có gói 50.000 tỷ đồng, Agribank triển khai 70.000 tỷ đồng cho DN nhỏ và vừa, với lãi suất thấp hơn 1-2%.

Tuy nhiên, giảm lãi suất mới giải quyết một phần bài toán. Vốn chỉ phát huy hiệu quả khi đến đúng DN, đúng thời điểm và đúng nhu cầu.

Dòng tiền cần một “đường về”

Để dòng vốn có thể đi đúng nơi và quay về đúng hạn, vấn đề cốt lõi là khoảng cách giữa cách DN tạo ra tiền và cách tổ chức tín dụng đánh giá khả năng trả nợ. Ông Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng cần thay đổi cách nhìn này.

“Các DN đang cần dòng vốn mới được thế chấp bằng sự cam kết của họ trong dự án, trong dữ liệu, trong phương án sản xuất kinh doanh khả thi”, ông Dũng phân tích.

Theo vị chuyên gia này, tiền đưa ra phải có “đường về”. Vì vậy, cần chuyển sang đánh giá sức khỏe dòng tiền thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp. Một nhà cung ứng có thể ít tài sản cố định nhưng có hợp đồng ổn định, khoản phải thu rõ ràng, lịch sử thanh toán tốt và khách hàng uy tín. Nếu dữ liệu được xác thực, ngân hàng sẽ có thêm cơ sở đánh giá rủi ro.

Trong văn bản trả lời kiến nghị của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (VASEP) về tín dụng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khẳng định cơ sở pháp lý hiện nay cho phép tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay dựa trên quản lý dòng tiền, thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, để mở rộng cách làm này cần hạ tầng công nghệ và dữ liệu dòng tiền được kết nối đồng bộ. NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các TCTD nghiên cứu giải pháp phù hợp.

Với thủy sản, yêu cầu đưa dòng vốn sát hơn với chu kỳ sản xuất cũng đã được NHNN đặt ra. Tại Văn bản 6777/NHNN-TD ngày 30/7/2026, NHNN yêu cầu các TCTD chủ động nắm bắt thị trường, tháo gỡ khó khăn cho từng DN và cân đối vốn cho giai đoạn cao điểm thu mua, chế biến, giao hàng.

NHNN cho biết sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại hỗ trợ lĩnh vực này. Với vốn trung, dài hạn cho vùng giống, vùng nuôi, chế biến sâu và chuyển đổi xanh, thời hạn vay sẽ được thỏa thuận theo chu kỳ kinh doanh và khả năng trả nợ. Đồng thời, NHNN đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách cho DN, hộ kinh doanh thực hiện dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng ESG. Tuy nhiên, tài chính xanh vẫn gặp khó do khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ.

Tín dụng cần chuyển từ dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền, hợp đồng và khả năng hoàn vốn. Khi dữ liệu được kết nối, ngân hàng có thể tài trợ sát hơn với từng DN và cả chuỗi cung ứng.

Ở góc độ DN, VCCI đề xuất ưu đãi nguồn vốn tái cấp vốn và tín dụng ưu tiên, ổn định. Nguồn vốn này cần tập trung cho sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DN trong chuỗi cung ứng và nông nghiệp công nghệ cao.

VCCI cho rằng giá vốn và thời hạn vay cần phù hợp với chu kỳ kinh doanh. Thẩm định tín dụng nên dựa vào dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, chất lượng khách hàng, khoản phải thu và lịch sử tuân thủ, thay vì phụ thuộc vào bất động sản thế chấp.

Cơ quan này cũng đề xuất hoàn thiện cơ chế nhận bảo đảm bằng máy móc, thiết bị, hàng tồn kho, nguyên vật liệu và khoản phải thu. Đồng thời, cần phát triển tài trợ chuỗi cung ứng và tài trợ theo hợp đồng cho DN trong chuỗi của các tập đoàn lớn.

Hướng đi được đặt ra là chuyển từ tài trợ từng DN sang tài trợ dòng chảy kinh doanh. DN cần minh bạch dòng tiền, số hóa giao dịch, quản trị khoản phải thu và xây dựng phương án kinh doanh có thể kiểm chứng. DN đầu chuỗi cũng cần chia sẻ dữ liệu về hợp đồng, khoản phải thu và lịch thanh toán của nhà cung ứng.

Khi ngân hàng nhìn được quan hệ giữa các mắt xích, rủi ro có thể được đánh giá trên toàn chuỗi thay vì chỉ một DN. Đây là cơ sở để dòng vốn bám sát hơn với thực tế sản xuất và nhu cầu vốn theo từng đơn hàng.

Áp lực càng rõ khi số DN rút lui khỏi thị trường vẫn cao. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tháng 8/2026 có gần 12,2 nghìn DN thành lập mới, giảm 14,4% so với tháng trước và 40,5% so với cùng kỳ. Trong khi đó, 9.631 DN hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6% so với tháng trước và 151,2% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, bình quân mỗi tháng có 25,8 nghìn DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi 19,7 nghìn DN rút lui.

Những con số này cho thấy bài toán không chỉ là giảm lãi suất, mà còn phải tạo cơ chế để vốn đến đúng nơi có khả năng tạo giá trị và hoàn vốn. Bốn tháng cuối năm sẽ là phép thử để dòng vốn theo kịp dòng tiền và chuỗi cung ứng, giúp DN vượt cao điểm và nâng sức cạnh tranh dài hạn.

                                                                                 Thế Vinh

VnBusiness