Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN sẽ chính thức ra đời. Ngành du lịch Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội, nhưng cũng nhiều thách thức. Trao với TBKD, ông Đinh Ngọc Đức - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Tổng Cục Du lịch) đã đưa ra nhiều nhận định để du lịch Việt có thể tận dụng những cơ hội và vượt qua những thách thức.
Ngành du lịch đã và đang chuẩn bị những gì cho hội nhập trong thời gian tới, đặc biệt là khi Cộng đồng ASEAN đang chuẩn bị ra đời, thưa ông?
Để phát triển du lịch, có góc độ cần quan tâm. Đầu tiên là thương mại du lịch (dịch vụ, lao động, đầu tư…). Thứ hai là thị trường du lịch (hợp tác mở cửa, thỏa thuận lẫn nhau giữa các nước). Hiện tại, tất cả đều đang tạo cơ hội cho du lịch Việt Nam phát triển.
Về thị trường, Việt Nam đang mở cửa với các chính sách thông thoáng, tạo điều kiện tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài làm dịch vụ du lịch (khách sạn, resort…). Việt Nam cũng đang tăng cường hợp tác, liên kết với các nước để phát triển du lịch chung. Ví dụ như hình thành các tour di sản giữa Việt Nam với các nước láng giềng; phát triển các con đường di sản dọc sông Mekong. Nhiều chương trình quảng bá chung trong ASEAN như “ASEAN cảm nhận sự ấm áp”, xây dựng các tiêu chuẩn chung trong ASEAN…
Ông Đinh Ngọc Đức - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập, cơ hội và thách thức của du lịch Việt là gì? Và theo ông, chúng ta phải chuẩn bị những gì để đón đầu cơ hội và vượt qua những thách thức?
Để tận dụng và đón đầu được cơ hội, khâu chuẩn bị mang ý nghĩa quyết định. Trước tiên cần nâng cao khả năng canh tranh, tăng chất lượng dịch vụ, và chuẩn bị cho thỏa thuận “Thừa nhận lẫn nhau về Du lịch” để tạo một khung chung cho ngành du lịch các nước.
Để chuẩn bị cho thỏa thuận, chúng ta cần quan tâm 3 vấn đề. Thứ nhất, củng cố thể chế bằng cách hình thành Hội đồng nghề du lịch quốc gia và Hội đồng cấp chứng chỉ nghề du lịch quốc gia (hiện tại đã có nhưng cần cải thiện hơn). Thứ hai, có chương trình đào tạo du lịch quốc gia hòa với chương trình chung trong ASEAN. Thứ ba, đẩy mạnh truyền thông để các DN, các cơ sở đào tạo nắm được tinh thần cốt lõi của thỏa thuận này và cùng phối hợp với cấp quản lý.
Về thách thức, riêng với du lịch thì cạnh tranh rất ít, chủ yếu là “vượt qua chính mình”. Thách thức lớn nhất khi hội nhập là nguy cơ “chảy máu chất xám”. Một lực lượng lao động chất lượng cao sẽ “chảy” vào các công ty nước ngoài.
Những kế hoạch quảng bá để nâng cao cạnh tranh cho du lịch Việt trong thời gian tới là gì, thưa ông?
Đầu tiên là kế hoạch quảng cáo trên các chương trình truyền hình quốc tế. Trước đây, chúng ta đã quảng cáo trên BBC và CNN. Sắp tới, chúng ta tiếp tục quảng cáo trên Travel Channel - một kênh quốc tế chuyên về du lịch, hướng đến các đối tượng cụ thể và lan tỏa rộng hơn, đặc biệt tại châu Âu. Đặc biệt, với mức giá chỉ với 30.000 USD nhưng phát 300 lượt. Nghĩa là trong vòng 3 tháng, mỗi ngày kênh này sẽ phát 5 lượt, với những khung giờ vàng.
Thứ hai là tập trung triển khai các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch tại nước ngoài. Điển hình trong 3 tháng cuối năm là Hội chợ du lịch quốc tế WTM (Anh), ITB Asia (Singapore), Thành Đô (Trung Quốc)…
Thứ ba là chính sách miễn visa cho người Việt Nam ở nước ngoài (Việt kiều). Chính sách này sẽ tăng lượng khách quốc tế là người gốc Việt, đặc biệt là thị trường khách tại Âu Mỹ sẽ được cải thiện. Đồng thời, gián tiếp tăng cường thông tin cho khách quốc tế. Trong thực tế công đồng Việt kiều đã tổ chức nhiều chương trình quảng bá và rất thành công.
Thứ tư là tăng cường quảng bá du lịch trên phim. Tổng cục đang có dự kiến mời các nhà làm phim của Bollywood (Ấn Độ) vào Việt Nam. Dự kiến tháng 12 năm nay có một số hãng phim, đạo diễn nổi tiếng sẽ vào Việt Nam để tổ chức Liên hoan phim Ấn Độ tại Việt Nam, chúng tôi sẽ kết hợp để đưa các nhà làm phim đi khảo sát theo chương trình đã thỏa thuận với Đại sứ quán.
Mục tiêu sản xuất tới 500.000 tấn hydrogen vào năm 2030 không nằm ngoài tầm với của Việt Nam. Điều còn thiếu, theo TS. Nguyễn Hữu Lương, là những chính sách đủ mạnh để hình thành thị trường, phát triển hạ tầng và kéo dòng vốn vào toàn bộ chuỗi giá trị hydrogen.
Ông Nguyễn Văn Diện – Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, để nâng cao sức cạnh tranh trong dài hạn, ngành gỗ cần đẩy mạnh phát triển rừng gỗ lớn và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, HTX với người trồng rừng.
Áp lực về năng suất, chi phí sản xuất, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đang buộc ngành chăn nuôi phải đẩy nhanh ứng dụng công nghệ và tăng cường liên kết chuỗi.
Trong bối cảnh ngành xây dựng đứng trước áp lực ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn xanh, ESG và mục tiêu giảm phát thải, doanh nghiệp không chỉ cần đổi mới công nghệ mà còn phải thay đổi tư duy quản trị.
Giá sầu riêng giảm ngay trước vụ thu hoạch lớn nhất năm không đơn thuần là biến động mùa vụ. Theo chuyên gia, ngành sầu riêng Việt Nam đang bước vào giai đoạn sàng lọc mạnh mẽ, khi tăng diện tích không còn là lợi thế, còn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu mới quyết định ai có thể tồn tại.
Mặc dù lạm phát đang là tâm điểm chú ý của dư luận, nhưng theo TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế, việc quá tập trung vào một chỉ số duy nhất có thể khiến chúng ta bỏ qua những rủi ro mang tính cấu trúc, những nút thắt trong vòng quay tiền tệ và cả những thách thức từ địa chính trị thế giới cực kỳ phức tạp...
Với 366 HTX đang hoạt động, kinh tế tập thể đang ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội tại Lai Châu. Từ nguồn vốn hỗ trợ đến ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và phát triển sản phẩm đặc trưng, nhiều HTX đang tạo việc làm,...