Đổi mới phương thức hỗ trợ vốn cho hợp tác xã: từ chủ trương của Đảng đến niềm tin vào kinh tế tập thể
Chọn cỡ chữ
Đổi mới phương thức hỗ trợ vốn cho hợp tác xã: từ chủ trương của Đảng đến niềm tin vào kinh tế tập thể
Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII khẳng định kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều hợp tác xã vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn để phát triển sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và tham gia chuỗi giá trị.
Từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị, bài viết phân tích ý nghĩa của việc đổi mới phương thức hỗ trợ vốn cho hợp tác xã, qua đó góp phần hiện thực hóa chủ trương của Đảng, phản bác những luận điệu xuyên tạc về kinh tế tập thể và củng cố niềm tin của nhân dân vào mô hình hợp tác xã trong giai đoạn mới.
Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng ta luôn xác định kinh tế tập thể (KTTT) mà nòng cốt là hợp tác xã (HTX) là một trong những thành phần kinh tế quan trọng, cùng với kinh tế nhà nước tạo nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan điểm đó không chỉ được khẳng định trong các kỳ Đại hội Đảng mà còn được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
Thiếu vốn vẫn là điểm nghẽn của kinh tế tập thể
Thế nhưng, trong khi chủ trương của Đảng ngày càng rõ ràng và nhất quán thì trên thực tế, nhiều hợp tác xã vẫn đang phải đối mặt với một "nút thắt" lớn: thiếu vốn để phát triển.
Đây cũng là điểm mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để xuyên tạc rằng kinh tế tập thể không còn phù hợp với cơ chế thị trường, hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả và chỉ tồn tại nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước. Những luận điệu này không chỉ sai về bản chất mà còn cố tình phủ nhận những thành tựu và giá trị thực tiễn mà khu vực kinh tế tập thể đang mang lại cho đất nước. Điều đáng chú ý là hiện nay một số quan điểm sai trái thường cố tình đồng nhất những hạn chế của một số hợp tác xã với bản chất của mô hình kinh tế tập thể, từ đó phủ nhận vai trò của khu vực kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất, khó khăn của nhiều hợp tác xã không xuất phát từ sự lỗi thời của mô hình mà chủ yếu do những rào cản về vốn, công nghệ, quản trị và liên kết thị trường. Vì vậy, tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển hợp tác xã chính là minh chứng rõ nét khẳng định tính đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế tập thể mà Đảng đã lựa chọn.
Lịch sử phát triển của hợp tác xã ở Việt Nam cho thấy tư tưởng về liên kết, hợp tác vì lợi ích chung đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm từ rất sớm. Người khẳng định muốn nông dân giàu, nông nghiệp thịnh thì cần phải có hợp tác xã. Theo Người, hợp tác xã chính là sự kết hợp giữa sức dân và vốn dân, giúp người lao động vượt qua sản xuất nhỏ lẻ, nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện đời sống.
Kế thừa tư tưởng đó, Đảng ta đã không ngừng đổi mới nhận thức về kinh tế tập thể. Hợp tác xã ngày nay hoàn toàn khác với mô hình bao cấp trước đây. Đó là tổ chức kinh tế do thành viên tự nguyện tham gia, cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng hưởng lợi và hoạt động theo cơ chế thị trường. Thực tiễn ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới cũng cho thấy mô hình hợp tác xã vẫn phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.
Nhìn từ góc độ lý luận, phát triển kinh tế tập thể không chỉ là một chủ trương phát triển kinh tế đơn thuần mà còn là sự cụ thể hóa quan điểm nhất quán của Đảng về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong mô hình đó, các thành phần kinh tế cùng tồn tại, phát triển lâu dài, cạnh tranh bình đẳng và hợp tác theo pháp luật, trong đó kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước từng bước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện sản xuất nhỏ vẫn chiếm tỷ trọng lớn ở khu vực nông thôn, nhiều hộ dân gặp khó khăn trong tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hợp tác xã chính là cầu nối giúp tập hợp các hộ sản xuất riêng lẻ thành một lực lượng sản xuất có quy mô lớn hơn, có khả năng liên kết với doanh nghiệp, tham gia chuỗi giá trị và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một số quan điểm sai trái, xuyên tạc cho rằng kinh tế tập thể là mô hình lạc hậu, không còn phù hợp với cơ chế thị trường; sự tồn tại của hợp tác xã chỉ dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Đây là cách nhìn phiến diện, cố tình đồng nhất những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện với bản chất của mô hình kinh tế tập thể. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển vẫn duy trì và phát triển mạnh các mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp, tín dụng, tiêu dùng, dịch vụ và năng lượng.
Ở Việt Nam, Luật Hợp tác xã năm 2023 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và cùng có lợi của các thành viên. Điều đó cho thấy hợp tác xã ngày nay hoàn toàn khác với mô hình hợp tác xã thời kỳ bao cấp trước đây. Hợp tác xã hiện đại hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm cơ sở tồn tại và phát triển, đồng thời bảo đảm các giá trị hợp tác, tương trợ và phát triển cộng đồng.
Có thể khẳng định rằng, phát triển kinh tế tập thể không phải là đi ngược quy luật thị trường mà chính là giải pháp để khắc phục những hạn chế của sản xuất nhỏ, nâng cao năng lực cạnh tranh của người dân và thúc đẩy phát triển bền vững. Vì vậy, bảo vệ và phát triển kinh tế tập thể cũng chính là bảo vệ một bộ phận quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thực tiễn Quảng Trị khẳng định hiệu quả của chính sách hỗ trợ vốn
Tại tỉnh Quảng Trị, khu vực kinh tế tập thể đang ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội. Hơn 900 hợp tác xã hoạt động trên nhiều lĩnh vực đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Nhiều hợp tác xã đã chủ động chuyển đổi phương thức sản xuất, tham gia chương trình OCOP, xây dựng thương hiệu sản phẩm, liên kết với doanh nghiệp để hình thành chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, từ canh tác truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao, các hợp tác xã đều cần nguồn vốn đầu tư rất lớn.
Thực tế cho thấy nghịch lý đang tồn tại ở nhiều nơi: hợp tác xã cần vốn nhưng khó tiếp cận vốn. Không ít hợp tác xã có phương án sản xuất khả thi nhưng không đủ tài sản bảo đảm để vay ngân hàng. Một số hợp tác xã còn hạn chế về năng lực quản trị, kế toán, xây dựng dự án đầu tư nên chưa đáp ứng yêu cầu thẩm định của các tổ chức tín dụng. Nếu không tháo gỡ được điểm nghẽn này, mục tiêu phát triển kinh tế tập thể theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW sẽ rất khó đạt được.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận nguồn lực phát triển như các chương trình tín dụng ưu đãi, chính sách hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ phát triển sản xuất, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao khoa học công nghệ. Bên cạnh đó, hệ thống các tổ chức tín dụng cũng từng bước mở rộng cho vay đối với khu vực kinh tế tập thể. Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng tiếp cận vốn của nhiều hợp tác xã vẫn còn hạn chế do quy mô nhỏ, năng lực quản trị chưa đồng đều, thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện tín dụng theo quy định. Điều đó cho thấy, bên cạnh việc tiếp tục phát huy hiệu quả các chính sách hiện hành, cần có những cơ chế hỗ trợ phù hợp hơn với đặc thù của khu vực kinh tế tập thể nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về vốn, tạo điều kiện để hợp tác xã phát triển bền vững.
Từ thực tiễn đó, sự ra đời và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã tỉnh Quảng Trị đã tạo thêm một kênh vốn chuyên biệt dành cho khu vực kinh tế tập thể. Khác với các kênh tín dụng thương mại, Quỹ hỗ trợ phát triển HTX được thành lập nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ phát triển hợp tác xã, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Với cơ chế linh hoạt, phù hợp với đặc thù của khu vực kinh tế tập thể, nguồn vốn của Quỹ đã trở thành điểm tựa cho nhiều hợp tác xã mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hiệu quả của chính sách hỗ trợ vốn được thể hiện rõ qua nhiều mô hình thực tiễn. Tại xã Vĩnh Hoàng, mô hình chăn nuôi gà công nghệ cao theo chuỗi liên kết của thành viên Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hiền Dũng là minh chứng sinh động. Từ nguồn vốn vay của Quỹ, các thành viên đã đầu tư hệ thống chuồng trại hiện đại, liên kết với doanh nghiệp trong cung ứng giống, thức ăn và bao tiêu sản phẩm. Từ những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, người dân đã từng bước chuyển sang sản xuất quy mô lớn, tạo thu nhập ổn định và giải quyết việc làm cho lao động địa phương.
Mô hình chăn nuôi gà công nghệ cao của thành viên HTX DVNN Hiền Dũng.
Từ một mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, việc hình thành chuỗi liên kết sản xuất đã cho thấy khi được tiếp cận nguồn vốn phù hợp, hợp tác xã hoàn toàn có khả năng vận hành hiệu quả theo cơ chế thị trường. Đây là minh chứng sinh động bác bỏ quan điểm cho rằng hợp tác xã chỉ tồn tại nhờ sự bao cấp của Nhà nước.
Đối với nhiều hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện nay, khó khăn lớn nhất không chỉ là thiếu vốn lưu động mà còn thiếu nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, máy móc và hạ tầng phục vụ sản xuất. Điều này làm hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ cho thành viên, nhất là các khâu làm đất, tưới tiêu, thu hoạch và vận chuyển nông sản. Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào tính thời vụ, nên việc phải thuê dịch vụ bên ngoài không chỉ làm tăng chi phí mà còn tiềm ẩn nguy cơ chậm lịch thời vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả sản xuất. Từ thực tế đó, Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã tỉnh Quảng Trị đã tập trung hỗ trợ các hợp tác xã đầu tư máy cày, máy gặt đập liên hợp, máy bay phun thuốc và các công trình hạ tầng thiết yếu nhằm nâng cao năng lực phục vụ thành viên.
HTX nông nghiệp Văn Quỹ, xã Nam Hải Lăng, với đặc điểm canh tác trên vùng đồng ruộng thấp trũng, việc chủ động tiêu úng và cấp nước có ý nghĩa quyết định đối với mỗi vụ sản xuất. Trước đây, để phục vụ gần 50 ha lúa, mỗi năm HTX phải chi khoảng 200 triệu đồng thuê máy bơm tư nhân thực hiện tưới, tiêu nước trong hai vụ sản xuất. Khoản chi phí lớn này không chỉ làm giảm hiệu quả hoạt động của HTX mà còn khiến công tác điều hành sản xuất phụ thuộc vào đơn vị cung cấp dịch vụ bên ngoài. Sau khi được Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã cho vay 500 triệu đồng để xây dựng trạm bơm, HTX đã hoàn toàn chủ động trong việc điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất. Việc chủ động hạ tầng thủy lợi không chỉ giúp giảm chi phí thường xuyên mà còn tạo nền tảng để HTX tổ chức sản xuất gắn với chuỗi giá trị. Nhờ đó, HTX đã liên kết với Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi Quảng Trị để sản xuất lúa chất lượng cao, hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Nếu trước đây người dân phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm thì nay lúa được thu mua ngay tại ruộng với giá cao hơn thị trường từ 700 đến 1.000 đồng/kg lúa tươi, qua đó nâng cao thu nhập và tạo động lực để nông dân gắn bó với mô hình hợp tác xã. Điều đó cho thấy nguồn vốn cho vay ưu đãi không tạo ra sự phụ thuộc mà ngược lại giúp hợp tác xã tăng cường nội lực, từng bước phát triển bền vững trên cơ sở phát huy năng lực tự thân.
Sản phẩm của Hợp tác xã nông nghiệp Văn Quỹ.
Hay như Hợp tác xã sản xuất và dịch vụ nông nghiệp sạch Hưng Loan, xã Quảng Trạch đã được hỗ trợ vốn để khắc phục hậu quả thiên tai, đồng thời tiếp tục mở rộng hệ thống nhà màng sản xuất nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao.
Sản phẩm của Hợp tác xã SX&DV nông nghiệp sạch Hưng Loan
Từ những mô hình thành công đến yêu cầu đổi mới chính sách
Nhìn từ những mô hình trên có thể thấy, điều mà người dân quan tâm không phải là những khẩu hiệu tuyên truyền hay những con số trong các văn bản chính sách, mà là những thay đổi cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Khi nguồn vốn được chuyển hóa thành những chuồng trại hiện đại, những công trình phục vụ sản xuất, những mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và những việc làm ổn định cho người lao động thì chủ trương của Đảng đã thực sự đi vào cuộc sống. Đó cũng chính là sức mạnh thuyết phục lớn nhất trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Bởi lẽ, thực tiễn phát triển của các hợp tác xã là câu trả lời sinh động nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò của kinh tế tập thể.
Điều quan trọng hơn là hiệu quả của các chính sách hỗ trợ vốn không chỉ được đo bằng doanh thu hay lợi nhuận. Giá trị lớn nhất chính là việc biến những chủ trương đúng đắn của Đảng thành kết quả cụ thể trong đời sống xã hội. Khi người dân thấy hợp tác xã hoạt động hiệu quả, thành viên có thu nhập cao hơn, sản phẩm làm ra có đầu ra ổn định, niềm tin vào mô hình kinh tế tập thể sẽ được củng cố bằng những minh chứng sống động nhất. Đó cũng là cách phản bác thuyết phục nhất đối với mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò của kinh tế tập thể.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đứng trước nhiều thách thức mới. Các thế lực thù địch không chỉ tập trung xuyên tạc các vấn đề lý luận mà còn khai thác những khó khăn, hạn chế trong quá trình triển khai chủ trương, chính sách để gieo rắc tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Nhờ nguồn vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển HTX tỉnh Quảng Trị, ông Trần Hữu Tấn có điều kiện đầu tư mở rộng trang trại gà.
Từ thực tiễn đó cho thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của công tác tuyên truyền, giáo dục hay đấu tranh phản bác trên không gian mạng, mà còn là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Mỗi chính sách đi vào cuộc sống hiệu quả đều góp phần tạo dựng niềm tin xã hội; ngược lại, những hạn chế trong tổ chức thực hiện có thể trở thành điểm để các đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc.
Đối với lĩnh vực kinh tế tập thể, niềm tin của người dân không được xây dựng bằng những khẩu hiệu tuyên truyền đơn thuần mà được hình thành từ những lợi ích cụ thể mà họ nhận được trong quá trình tham gia hợp tác xã. Khi thành viên hợp tác xã có thu nhập ổn định hơn, khi sản phẩm được tiêu thụ thuận lợi hơn, khi người lao động có thêm việc làm và đời sống được cải thiện thì những giá trị của kinh tế tập thể được khẳng định bằng chính thực tiễn.
Nhìn từ góc độ này, các chính sách hỗ trợ vốn cho hợp tác xã không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Nguồn vốn được sử dụng hiệu quả sẽ tạo ra những mô hình phát triển thành công, những câu chuyện thực tế có sức lan tỏa trong cộng đồng. Chính những kết quả đó là cơ sở thuyết phục nhất để phản bác các luận điệu phủ nhận vai trò của kinh tế tập thể và xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, khi chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra là phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với việc nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là cách để biến những chủ trương đúng đắn của Đảng thành những giá trị hiện hữu trong đời sống nhân dân, qua đó củng cố niềm tin xã hội và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hiện thực hóa Nghị quyết bằng những giải pháp thiết thực
Trong giai đoạn mới, để tiếp tục phát huy vai trò của khu vực kinh tế tập thể, hiện thực hóa hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW và góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với chủ trương phát triển kinh tế tập thể của Đảng, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, đổi mới định hướng hỗ trợ vốn theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm. Nguồn vốn hỗ trợ cần ưu tiên cho các hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của địa phương, các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và có khả năng tạo tác động lan tỏa trong cộng đồng. Qua đó, hình thành các mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả để nhân rộng và tạo sức thuyết phục từ thực tiễn.
Hai là, chuyển từ tư duy “hỗ trợ vốn” sang tư duy “đồng hành phát triển hợp tác xã”. Bên cạnh việc cho vay, cần tăng cường hỗ trợ các hợp tác xã về quản trị, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP và kết nối thị trường tiêu thụ. Khi được hỗ trợ đồng bộ cả về nguồn lực tài chính và năng lực quản trị, hợp tác xã sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phát triển bền vững hơn.
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu số về tình hình hoạt động, hiệu quả sản xuất kinh doanh và lịch sử sử dụng vốn của các hợp tác xã để phục vụ công tác đánh giá tín nhiệm, nâng cao tính minh bạch, giảm bớt rào cản tiếp cận vốn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tập thể.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả hỗ trợ vốn theo hướng kết hợp giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Bên cạnh các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và khả năng hoàn trả vốn vay, cần chú trọng đánh giá những giá trị mà hợp tác xã mang lại cho cộng đồng như tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho thành viên, góp phần xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Năm là, phát huy hiệu quả phối hợp giữa Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX, các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Chính sách xã hội và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước nhằm hình thành hệ sinh thái hỗ trợ vốn đa dạng, đáp ứng nhu cầu phát triển của hợp tác xã trong từng giai đoạn
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay không chỉ là đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn là làm cho những chủ trương đúng đắn của Đảng được hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể trong đời sống nhân dân. Đối với lĩnh vực kinh tế tập thể, mỗi hợp tác xã hoạt động hiệu quả, mỗi mô hình liên kết sản xuất thành công, mỗi việc làm được tạo ra và mỗi sản phẩm vươn ra thị trường đều là những minh chứng sinh động khẳng định tính đúng đắn của đường lối mà Đảng đã lựa chọn.
Thực tiễn cho thấy, đổi mới phương thức hỗ trợ vốn cho hợp tác xã vì vậy không chỉ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn phát triển của khu vực kinh tế tập thể mà còn là quá trình đưa chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, biến nghị quyết thành hành động và biến niềm tin thành động lực phát triển. Khi nghị quyết được đo bằng những mùa vụ bội thu, những sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường và những nụ cười của người dân, đó chính là minh chứng thuyết phục nhất cho sức sống của đường lối mà Đảng đã lựa chọn.
Đào Thị Thanh Loan
Phòng tư vấn hỗ trợ - Quỹ HTX, Liên minh HTX tỉnh Quảng Trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về
tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai
đoạn mới.
2. Luật Hợp
tác xã số 17/2023/QH15 ngày 20/6/2023.
3. Ban Tuyên
giáo Trung ương (2023), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”.
4. Quỹ Hỗ trợ
phát triển hợp tác xã tỉnh Quảng Trị (2025), Báo cáo kết quả hoạt động.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt và xu hướng tiêu dùng thông minh lên ngôi, xây dựng thương hiệu và bảo hộ sở hữu trí tuệ không còn là "chiếc áo xa xỉ" dành cho doanh nghiệp lớn. Theo TS Nguyễn Thanh Hoàn, đây đã trở thành yêu cầu sống còn giúp HTX nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và bảo vệ thành quả lao động trước nguy cơ bị làm giả, chiếm dụng thương hiệu.
Làng nghề bánh phồng Sơn Đốc hơn trăm năm tuổi ở Vĩnh Long đang nâng cao giá trị nhờ phát triển sở hữu trí tuệ. Với vai trò quan trọng của HTX, việc khai thác hiệu quả nhãn hiệu tập thể, xây dựng thương hiệu và đổi mới sản xuất đang mở ra hướng phát triển bền vững cho làng nghề truyền thống.
Tại xã Hòa Hiệp, Tp.HCM, HTX Bầu Mây đã nâng giá trị hạt tiêu lên nhiều lần nhờ bảo hộ nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu và phát triển chuỗi liên kết. Thành công này cho thấy sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo vệ thành quả sáng tạo mà còn là đòn bẩy phát triển của các HTX nông nghiệp.
Thực tiễn chuyển biến mạnh mẽ tại xã Tân Hưng (tỉnh Hưng Yên) với hai sản phẩm chủ lực - nhãn lồng và long nhãn, là một minh chứng sống động, khẳng định vai trò cốt lõi của sở hữu trí tuệ trong việc định hình diện mạo mới cho các HTX.
Trên những cánh đồng lúa, vườn chanh hay làng hoa kiểng của Đất Sen hồng Đồng Tháp, một cuộc chuyển mình đang diễn ra mạnh mẽ. Với sự đồng hành của các HTX, công nghệ số dần trở thành công cụ sản xuất hàng ngày của người nông dân.
Giữa vùng nắng hạn Khánh Hòa, trái nho Thái An đang vượt ra khỏi giá trị của một nông sản đơn thuần. Thương hiệu, OCOP và sở hữu trí tuệ đã trở thành đòn bẩy để HTX nâng tầm sản phẩm, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu cực đoạn, chi phí đầu vào leo thang, phát triển nông nghiệp công nghệ cao không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu, với vai trò chủ lực của các HTX, tổ hợp tác.
Với hơn 340 ha lúa theo chuỗi liên kết khép kín, mỗi năm cung ứng trên 5.000 tấn lúa giống chất lượng cao cùng hàng nghìn tấn lúa hàng hóa, HTX Khiết Tâm (xã Thạnh An, TP Cần Thơ) đang khẳng định hiệu quả của mô hình kinh tế tập thể hiện đại. Danh...