Công nghiệp chế tạo tăng tốc, nhưng “hàm lượng Việt” còn thấp
Công nghiệp chế tạo tăng trưởng mạnh, nhưng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI đã vượt 80%, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn phụ thuộc lớn vào linh kiện, thiết bị nhập khẩu. Bài toán đặt ra là nâng tỷ lệ nội địa hóa và đưa doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tại hội thảo Hợp tác công nghiệp chế tạo Việt Nam - Hà Lan diễn ra tuần qua, ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp đã chỉ ra một nghịch lý đáng chú ý phía sau những kết quả tăng trưởng tích cực.
Khoảng trống phía sau những con số tăng trưởng
GDP 6 tháng tăng 8,18% và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 7 tháng đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất của công nghiệp cũng tăng cao: IIP 7 tháng tăng 11,4%, IIP ngành chế biến, chế tạo tăng 12%...
Song, theo ông Quân, đi cùng những con số này là mức độ phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và nguồn cung linh kiện, thiết bị từ bên ngoài.
Ông Quân nhắc lại, nếu như năm ngoái khu vực FDI đóng góp 77,3% vào kim ngạch xuất khẩu, thì từ đầu năm đến hết tháng 7, tỷ lệ này đã vượt 80%.
“Đấy là con số mà chúng ta cần phải quan tâm và phải có những biện pháp để thay đổi trong giai đoạn sắp tới”, ông Quân nhấn mạnh.
Ở chiều đầu vào, công nghiệp chế tạo trong nước còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu linh kiện, thiết bị; do đó dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, cán cân thương mại nhập siêu 20,52 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm, chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, máy móc và hàng hóa phục vụ sản xuất, đầu tư đang gia tăng. Cụ thể, nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện đạt hơn 135,8 tỷ USD, tăng gần 66%; nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt gần 41,1 tỷ USD, tăng 22,7%.
“Do đứt gãy chuỗi cung ứng, như chiến tranh chẳng hạn, một số cái doanh nghiệp đã phải nhập khẩu linh kiện, thiết bị về để dự phòng, phòng khi giá tăng cao. Đơn cử giá RAM trong 2 năm qua đã tăng gấp đôi, gấp ba. Nếu không nhập khẩu ngay thì sẽ không có tiền để mua trong giai đoạn sắp tới”, ông Quân lý giải.
Công nghiệp chế tạo là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Thời gian qua, với những lợi thế về môi trường đầu tư, vị trí địa lý chiến lược và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, cơ khí chính xác, thiết bị điện và công nghệ cao. Tuy nhiên thực tế cũng đã cho thấy tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước ở nhiều ngành còn khiêm tốn. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia các công đoạn gia công, lắp ráp và cung ứng linh kiện đơn giản.
Chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn tới đã xác định rõ định hướng ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế tạo có giá trị gia tăng cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo tính toán của Cục Công nghiệp được ông Quân dẫn lại, nếu tỷ lệ nội địa hóa của ngành điện tử đạt mức khoảng 70%, ngành này có thể đóng góp khoảng 0,8 - 0,9% cho tăng trưởng kinh tế mỗi năm, trong khi với những ngành khác, mức đóng góp khoảng 0,2-0,3%.
“Đấy là lý do tại sao chúng tôi rất quyết tâm trong theo đuổi mục tiêu tăng cường tỷ lệ nội địa hóa”, ông Quân nhấn mạnh.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Việt Nam rất cần sự mở rộng hợp tác với các đối tác quốc tế có trình độ cao, tiên tiến. Song khoảng cách từ thực tế đến mục tiêu còn khá lớn. Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt ra mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn FDI. Trong khi đó, theo ông Quân, Việt Nam hiện mới có khoảng 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, ngay trong số này vẫn chưa thống kê đầy đủ có bao nhiêu doanh nghiệp đã thực sự tham gia các chuỗi cung ứng.
Mục tiêu hình thành từ 500 - 1.000 doanh nghiệp trở thành nhà cung cấp cấp 1 còn thách thức hơn.
Phải thay đổi cách hỗ trợ
Tại toạ đàm về Nghị quyết 10 diễn ra cuối tuần qua, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, dẫn chứng trường hợp của Intel và FAB 9, cho thấy con đường để một doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung cấp của tập đoàn đa quốc gia có thể kéo dài đến mức nào.
Theo đó, Intel bắt đầu đầu tư tại Việt Nam từ năm 2006. Tuy nhiên, theo bà Thủy, đến năm 2022 tập đoàn này mới lựa chọn được doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên trở thành nhà cung ứng trong chuỗi của mình là Công ty FAB 9.
“Nếu chúng ta tiếp tục để thị trường tự vận hành theo cách cũ, các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn có thể hợp tác như trường hợp của Intel và FAB 9, nhưng khoảng thời gian 20 năm là quá dài. Nền kinh tế Việt Nam không thể chờ đợi lâu như vậy để chuyển mình và nâng cao nội lực phát triển”, bà Thuỷ nhấn mạnh.
Đây là bài học để Việt Nam xem xét lại cách tiếp cận, thúc đẩy từ cả hai phía: doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Đại diện Cục Đầu tư nước ngoài nêu thực tế, thời gian qua đã có chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực nhưng chưa bám sát hoặc chưa đáp ứng đúng yêu cầu thực tế của doanh nghiệp FDI. Do đó hiện nay công tác đào tạo bắt buộc phải có sự phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp FDI để đào tạo trực tiếp theo chuẩn mực và nhu cầu thực tế của chính họ.
Bộ Tài chính đang tích cực chuẩn bị trình Quốc hội thể chế hóa các tư tưởng, định hướng chính sách này. Theo đó, các giải pháp khuyến khích doanh nghiệp FDI sẽ được thiết kế mạnh mẽ hơn như chính sách ưu đãi về thuế, hỗ trợ trực tiếp bằng ngân sách, ưu đãi đối với các khoản chi phí doanh nghiệp FDI đã bỏ ra, chi trả để đào tạo cho doanh nghiệp trong nước.
Bà Thủy nêu ví dụ, nếu một doanh nghiệp FDI bỏ ra 10 tỷ đồng cho công tác đào tạo, Nhà nước có thể hỗ trợ lại một phần khoảng 30 - 50%, hoặc quy định cơ chế cho phép tính khoản chi phí này vào ưu đãi khấu trừ thuế, hoặc áp dụng các hình thức bù đắp phù hợp khác nhằm hoàn trả kinh phí mà doanh nghiệp FDI đã đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp nội địa có cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị.
"Đây là những giải pháp chính sách rất cụ thể mà chúng tôi sẽ kiến nghị Quốc hội thể chế hóa vào các luật có liên quan và sẽ trình trong thời gian sớm nhất. Dự kiến các nội dung này sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp tháng 10 tới”, bà Thuỷ cho biết.
Còn với các doanh nghiệp trong nước, bên cạnh triển khai đồng bộ Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, cũng cần thay đổi phương thức hỗ trợ đảm bảo đúng và trúng nhu cầu thực tế, tránh tình trạng hỗ trợ dàn trải, kém hiệu quả.
Bên cạnh các giải pháp hỗ trợ và đào tạo, các chuyên gia cho rằng niềm tin là một trong những điều kiện then chốt để thu hẹp khoảng cách giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, cần nghiên cứu hình thành những định chế trung gian chuyên trách để kết nối hai khu vực. Các tổ chức trung gian này không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm đầu ra mà còn là công cụ bảo đảm niềm tin và giám sát thực thi cam kết giữa hai bên. Kinh nghiệm quốc tế thì đảm nhận khâu trung gian có thể là vai trò của hiệp hội doanh nghiệp, chính quyền địa phương hoặc các định chế chuyên trách quốc tế.
Ở phía chính sách công nghiệp, ông Phạm Văn Quân cho biết Cục Công nghiệp đang nghiên cứu một số chính sách đối với các ngành công nghiệp trọng điểm, công nghiệp hỗ trợ. Cùng với đó, vừa qua Chính phủ đã có Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035. Mục tiêu trọng tâm là hỗ trợ phát triển khoảng 2.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và sức tự chủ cho các ngành công nghiệp nền tảng.
Khi Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất của nhiều tập đoàn quốc tế, thước đo tiếp theo của công nghiệp chế tạo không chỉ ở số lượng nhà máy hay quy mô xuất khẩu. Quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp Việt bước được vào chuỗi cung ứng, đảm nhận những công đoạn có giá trị cao hơn.
Cần đảm bảo từng bước nâng cao năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam, cũng chính là nâng cao nội lực và chất lượng tổng thể của nền kinh tế.
Nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp. Việc nâng cao năng lực sẽ giúp gia tăng mức độ sẵn sàng và mở ra nhiều cơ hội vào chuỗi liên kết. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI bày tỏ mong muốn tìm kiếm đối tác trong nước nhưng lại gặp khó khăn trong việc chọn lựa những đơn vị đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật khắt khe.
Việt Nam có một tầm nhìn chiến lược về việc nâng cao vị thế của mình trong chuỗi cung ứng công nghệ cao và chuỗi cung ứng bán dẫn trên toàn cầu. Rất nhiều doanh nghiệp quốc tế đang mở rộng chuỗi cung ứng, và tôi cũng thấy được cơ hội cho các doanh nghiệp có năng lực của Việt Nam tham gia vào những chuỗi cung ứng này. Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam sở hữu năng lực trong công nghiệp chế tạo và bước tiếp theo chính là kết nối những năng lực đó với chuỗi cung ứng trên toàn cầu.
Có ba lực đang tạo ra nhu cầu thật cho hàm lượng nội địa. Yêu cầu chứng minh xuất xứ ngày càng ngặt nghèo, buộc các tập đoàn phải biết rõ từng chi tiết đến từ đâu. Yêu cầu khai báo dấu vết carbon theo từng sản phẩm buộc họ phải kiểm soát được nhà cung ứng ở những lớp sâu. Và sau những cú sốc chuỗi cung ứng vừa qua, không tập đoàn nào còn muốn phụ thuộc vào một nguồn duy nhất. Chính sách bây giờ không cần đẩy một "tảng đá" lên dốc, chỉ cần thúc cho một xu hướng sẵn có đi nhanh hơn.
Đỗ Kiều

“Mưa” tín dụng ưu đãi hơn 250.000 tỷ, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể vay ngân hàng nào?
NOXH Thuận Thành nợ gần 800 tỷ đồng trái phiếu, kiểm toán lưu ý 320 tỷ đồng lãi chưa hạch toán
Miễn lệ phí trước bạ xe máy và giảm 50% phí ô tô cho công dân có định danh mức độ 2?
Nam A Bank giảm lãi suất vay tới 1,8%/năm hỗ trợ doanh nghiệp

5 đại lý chiến lược đồng hành cùng dự án T&T Homes Elite Rivera
Loạt đại gia địa ốc nợ thuế hàng trăm tỷ: 2 cái tên trong hệ sinh thái Novaland gây chú ý
Tay to vung tiền săn nhà đất 'ngộp'
"Đặc quyền" tầm nhìn của căn hộ penthouse Nam trung tâm Đà Nẵng
Cập nhật mới nhất những khoản thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong năm 2026
Nghị định 245/2026/NĐ-CP về gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thu nhập cá nhân (TNCN) và tiền thuê đất trong năm 2026, giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh giảm áp lực dòng tiền. Người nộp thuế cần lưu ý hạn 2/11/2026 để gửi đề nghị gia hạn.
Đừng bỏ lỡ
Khoa học công nghệ: Mở lối cho nông nghiệp hiện đại ở Sơn La
Từ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất giống, xây dựng vùng nguyên liệu đến tự động hóa tưới tiêu, các HTX tại Sơn La đang từng bước đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản.


































