VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Tổ chức thực hiện NQ 10 trong thực tế: Dòng vốn toàn cầu đang đổi hướng

Tổ chức thực hiện NQ 10 trong thực tế: Dòng vốn toàn cầu đang đổi hướng

Thực hiện thành công Nghị quyết số 10-NQ/TW phụ thuộc vào việc đọc đúng “Bức tranh dòng vốn đầu tư toàn cầu”. Từ nay đến năm 2045, thế giới sẽ không bước vào thời kỳ phi toàn cầu hóa, mà chuyển sang một mô hình mới là “toàn cầu hóa có chọn lọc, dựa trên công nghệ, an ninh và phát triển bền vững”, làm thay đổi mạnh cơ cấu các dòng vốn quốc tế.

Muốn triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trước hết phải hiểu dòng vốn của thế giới đang đi về đâu. Nhìn từ góc độ dài hạn đến năm 2045, một điều đã khá rõ là thế giới không quay lưng với toàn cầu hóa, nhưng toàn cầu hóa của giai đoạn tới sẽ có chọn lọc, được định hình bởi công nghệ, an ninh và phát triển bền vững. Hệ quả là cơ cấu các dòng vốn quốc tế sẽ thay đổi sâu sắc.

Đại diện các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài dự hội nghị quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sáng 30/6- Ảnh: VGP
Đại diện các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài dự hội nghị quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sáng 30/6- Ảnh: VGP

Hiện nay, tổng dòng vốn đầu tư xuyên biên giới, bao gồm FDI, đầu tư gián tiếp (FPI), mua bán và sáp nhập (M&A), các quỹ đầu tư, vốn hạ tầng và tín dụng phát triển, dao động ở mức hàng chục nghìn tỷ USD mỗi năm. Đến năm 2045, quy mô này có thể tăng gấp 1,5 đến 2 lần hiện nay, nhưng cấu trúc sẽ khác rất nhiều. Đặc điểm nổi bật nhất, theo dự báo, là vốn sẽ dịch chuyển từ nơi có chi phí thấp sang nơi có công nghệ cao, thể chế tốt và khả năng bảo vệ tài sản trí tuệ.

Sự dịch chuyển ấy thể hiện rõ khi so sánh xu hướng của từng loại vốn qua ba giai đoạn:

VnBusiness

Hai thập kỷ, hai làn sóng vốn

Giai đoạn 2026-2035 sẽ là thập kỷ các tập đoàn toàn cầu hoàn tất việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng, theo các chiến lược “China + 1”, “China + N”, đa dạng hóa đối tác chiến lược, đưa đầu tư về những địa bàn gần hơn và củng cố năng lực chống chịu của chuỗi cung ứng.

Vốn đổ mạnh nhất vào ba lĩnh vực. Trước hết là công nghiệp bán dẫn, khi những tên tuổi như TSMC, Samsung Electronics, Intel và NVIDIA tiếp tục rót hàng nghìn tỷ USD vào Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Đông Nam Á. Kế đến là năng lượng xanh, với hydrogen, điện gió ngoài khơi, pin lưu trữ và điện mặt trời thế hệ mới. Và nhanh nhất có lẽ là trí tuệ nhân tạo cùng các trung tâm dữ liệu, những lĩnh vực được dự báo hấp thụ vốn nhanh nhất thế giới từ nay đến năm 2035.

Sang giai đoạn 2036-2045, bức tranh chuyển hẳn sang nền kinh tế số toàn cầu. Đến thời điểm đó, trí tuệ nhân tạo trở thành hạ tầng thiết yếu, robot hóa phổ cập, xe tự hành được thương mại hóa rộng rãi và điện toán lượng tử bắt đầu ứng dụng trong công nghiệp.

Vốn đầu tư sẽ dồn vào hạ tầng số, gồm trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và điện toán trí tuệ nhân tạo; vào công nghệ sinh học, với y học chính xác, chỉnh sửa gen và dược phẩm phát triển bằng AI; và vào công nghiệp không gian, nơi những doanh nghiệp như SpaceX và Blue Origin có thể mở ra một thị trường đầu tư hoàn toàn mới.

Ai xuất khẩu vốn, và Việt Nam chọn dòng nào

Trật tự giữa các nhóm quốc gia cũng dịch chuyển, nhưng chậm hơn nhiều so với cảm nhận thường thấy. Hiện các nước phát triển vẫn chiếm khoảng 70% dòng vốn đầu tư quốc tế; tỷ trọng này được dự báo giảm về khoảng 65% vào năm 2035 và 60% vào năm 2045, trong khi các nền kinh tế đang phát triển tăng tương ứng từ 30% lên 35% rồi 40%. Điều đó không có nghĩa các nước phát triển suy yếu: quy mô vốn tuyệt đối của họ vẫn tăng, chỉ là các nền kinh tế mới nổi lớn lên nhanh hơn.

Trong thập kỷ 2026-2035, nhóm dẫn đầu về đầu tư ra nước ngoài nhiều khả năng vẫn do Mỹ đứng đầu, nhờ lợi thế về trí tuệ nhân tạo, tài chính và công nghệ lõi. Trung Quốc, dù đối mặt nhiều thách thức, vẫn sở hữu dự trữ ngoại hối lớn và các tập đoàn toàn cầu mạnh, và sẽ tiếp tục đầu tư mạnh ra bên ngoài. Nhật Bản vẫn là một cường quốc xuất khẩu vốn; Đức dẫn đầu châu Âu về đầu tư công nghiệp; Anh giữ vai trò trung tâm tài chính quốc tế lớn; còn Hàn Quốc đầu tư mạnh vào điện tử, pin và công nghệ cao.

Điểm đáng chú ý hơn nằm ở giai đoạn 2036-2045, khi xuất hiện một nhóm nhà đầu tư mới. Ấn Độ có khả năng cao trở thành một trong năm quốc gia đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới, với các tập đoàn như Tata Group, Reliance Industries và Infosys toàn cầu hóa mạnh mẽ. Nguồn vốn từ các quỹ chủ quyền của Ả Rập Xê Út sẽ tiếp tục mở rộng; Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất trở thành một trung tâm đầu tư quốc tế hàng đầu; còn Singapore tiếp tục là trung tâm phân phối vốn của châu Á.

Tổng hợp lại, đến năm 2045, mười quốc gia đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới được dự báo gồm Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Đức, Ả Rập Xê Út, Anh, Singapore, Hàn Quốc và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.

Với Việt Nam, điều quan trọng nhất là không còn nhìn FDI theo nghĩa truyền thống. Đến năm 2045, cuộc cạnh tranh quốc tế sẽ không còn xoay quanh câu hỏi “ai ưu đãi thuế nhiều hơn”, mà là “ai thu hút được dòng vốn công nghệ, dòng vốn đổi mới sáng tạo, dòng vốn tài chính quốc tế và các tập đoàn dẫn dắt chuỗi giá trị toàn cầu”.

Nói cách khác, nếu giai đoạn 1987-2025 là thời kỳ Việt Nam thu hút “vốn sản xuất”, thì giai đoạn 2026-2045 cần đồng thời hướng tới 5 dòng vốn chiến lược: FDI công nghệ cao, vốn của các trung tâm tài chính quốc tế, vốn từ các quỹ đầu tư toàn cầu, vốn cho chuyển đổi xanh, và vốn cho đổi mới sáng tạo và AI.

Nắm rõ bối cảnh đó chính là điều kiện để tổ chức thực hiện tốt nhất Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tức chuyển từ mục tiêu thu hút thật nhiều vốn sang thu hút đúng dòng vốn, đúng đối tác chiến lược và tạo giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế.

TS. Phan Hữu Thắng

Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ KH&ĐT (nay Bộ Tài chính)

VnBusiness