VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Doanh nghiệp nhỏ xuất khẩu: cắt chi phí để đi sâu vào chuỗi giá trị

Doanh nghiệp nhỏ xuất khẩu: cắt chi phí để đi sâu vào chuỗi giá trị

Xuất khẩu đang vào chặng nước rút, nhưng với doanh nghiệp nhỏ, đưa được hàng ra thị trường mới chỉ là bước đầu khi chi phí tiêu chuẩn, truy xuất, chứng nhận và logistics liên tục tăng. Giảm những khoản chi này bằng hạ tầng, dữ liệu và dịch vụ dùng chung đang là bài toán để có thêm dư địa đi sâu vào chuỗi giá trị.

Một đơn hàng đi được đến thị trường nước ngoài chưa đồng nghĩa doanh nghiệp đã đứng vững. Với các doanh nghiệp (DN) nhỏ, áp lực giờ không chỉ là tìm đầu ra mà còn là chi phí tuân thủ, yêu cầu tiêu chuẩn và khả năng đáp ứng ngày càng cao của đối tác. Những vướng mắc phát sinh trên đường đưa hàng ra thị trường vì thế có thể nhanh chóng trở thành gánh nặng.

Xuất được hàng, chi phí vẫn chưa dừng lại

Với DN nhỏ, chi phí xuất khẩu (XK) không chỉ nằm trên hóa đơn. Trường hợp Công ty TNHH Dược liệu Vũ Gia (chuyên phát triển sản phẩm từ trà hoa vàng) cho thấy một khoản chi khó tính bằng tiền: thời gian chờ đợi.

DN nhỏ phải kiểm soát nhiều khâu từ sản xuất, đóng gói đến truy xuất, chứng nhận trước khi đưa hàng ra thị trường XK.
DN nhỏ phải kiểm soát nhiều khâu từ sản xuất, đóng gói đến truy xuất, chứng nhận trước khi đưa hàng ra thị trường XK.

Ông Phạm Tiến Duật, Phó giám đốc công ty, cho biết những thay đổi trong mô hình quản lý nhà nước tại địa phương khiến doanh nghiệp gặp không ít lúng túng. Việc xây dựng Luật An toàn thực phẩm mới càng đặt DN trước nhiều yêu cầu cần làm rõ.

Nhất là quy định thay đổi, cách áp dụng giữa các địa phương cũng chưa hoàn toàn giống nhau. “Nếu cứ đợi cơ quan quản lý trả lời từng trường hợp thì có khi mất hàng tháng, thậm chí gần một năm, trong khi hàng hóa vẫn phải đưa ra thị trường”, ông Duật nói.

Một bài toán khác của DN nhỏ là làm sao thể hiện đúng những giá trị của sản phẩm mà vẫn đáp ứng quy định. Như vướng mắc của Công ty TNHH Spicy Country đang nằm ở khâu ghi thông tin trên bao bì. 

DN này phát triển các sản phẩm gia vị lên men từ ớt theo hướng xanh, không sử dụng chất bảo quản và nghiên cứu giảm muối. Tuy nhiên, những thông tin như “không có chất bảo quản”, “ít muối”, “lên men tự nhiên” đều phải có căn cứ từ tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể. Ông Lê Minh Cương, Giám đốc công ty, cho rằng chỉ cần ghi không đúng, sản phẩm có thể phải điều chỉnh khi đã vào hệ thống phân phối hoặc bị cơ quan quản lý yêu cầu sửa lại

Với DN nhỏ, chi phí XK không chỉ là vận chuyển mà còn gồm kiểm nghiệm, chứng nhận, dữ liệu và chi phí đáp ứng quy định. Những khoản chi này cộng dồn có thể bào mòn đáng kể biên lợi nhuận.

Những vướng mắc trên cho thấy chi phí đưa hàng ra thị trường không chỉ nằm ở vận chuyển. Với DN nhỏ, đó còn là tiền cho dữ liệu, chứng nhận, kiểm nghiệm, nhân sự và cả thời gian xử lý các yêu cầu phát sinh.

Với DN lớn, những khoản này có thể được hấp thụ bởi bộ phận chuyên trách và hệ thống riêng. Với DN nhỏ, mỗi khoản chi lại tác động trực tiếp đến biên lợi nhuận. Vì vậy, bài toán giảm chi phí không thể chỉ đặt lên vai từng DN. Những gì có thể dùng chung thì nên được tổ chức dùng chung, thay vì mỗi DN tự đầu tư và trả tiền nhiều lần.

Thực tế này cũng được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chỉ ra khi góp ý Dự thảo Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa. Theo VCCI, DN nhỏ đang chịu áp lực lớn trong việc đáp ứng các chuẩn mực phát triển bền vững. Trong khi đó, chi phí đầu tư các phần mềm chuyên dụng như phần mềm kiểm kê khí nhà kính, phần mềm quản lý vòng đời và quản lý thông tin sản phẩm vẫn là rào cản đáng kể.

Áp lực này càng lớn khi các thị trường XK ngày càng siết yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, vệ sinh và an toàn sản phẩm. VCCI cho rằng nếu từng DN nhỏ phải tự đầu tư phần mềm chuyên dụng để đáp ứng các yêu cầu tuân thủ, tổng chi phí sẽ rất lớn.

Dùng chung hạ tầng, dành sức nâng giá trị

Từ thực tế đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hỗ trợ DN chuyển đổi số, mà còn phải giúp họ tiếp cận các công cụ cần thiết với chi phí hợp lý. Trong khi đó, Điều 11.6 Dự thảo Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa mới tập trung vào những nội dung cơ bản như số hóa dữ liệu, phần mềm kế toán, chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi kép.

Vì vậy, VCCI đề xuất cân nhắc bổ sung chi phí trang bị các phần mềm chuyên dụng vào phạm vi hỗ trợ tại Điều 11.6. Đồng thời, kiến nghị xây dựng Nền tảng dữ liệu sản phẩm quốc gia dùng chung. Nền tảng này giúp DN nhỏ và vừa thu thập, quản lý, chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm, chuỗi cung ứng và môi trường theo chuẩn quốc tế. Đây cũng là cơ sở để tạo lập, quản lý hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường XK.

Khi kết nối với Cổng thông tin một cửa quốc gia, hệ thống chứng nhận xuất xứ điện tử và các hệ thống quản lý xuất nhập khẩu, nền tảng này có thể liên thông dữ liệu giữa các bên. DN nhờ đó giảm việc khai báo, cập nhật cùng một thông tin nhiều lần.

Theo giới chuyên gia, Nhà nước có thể miễn phí hoặc áp dụng mức phí ưu đãi cho DN nhỏ sử dụng nền tảng. Cách làm này chuyển từ “mỗi DN tự đầu tư” sang “nhiều DN cùng sử dụng”, qua đó giảm chi phí nền cho những DN chưa đủ quy mô để xây dựng hệ thống riêng.

Đây cũng là bài toán lớn với DN nhỏ trong ngành rau quả, nơi chi phí không phát sinh ở một khâu mà tích tụ suốt chuỗi. Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng chi phí bắt đầu từ vùng nguyên liệu, rồi cộng dồn qua chứng nhận, thu hoạch, sơ chế, bảo quản, trung chuyển, kiểm dịch đến XK.

DN nhỏ không nhất thiết phải tự đầu tư tất cả hệ thống phục vụ XK. Những hạng mục có thể dùng chung nên được chia sẻ để giảm chi phí, dành nguồn lực nâng chất lượng và giá trị sản phẩm.

Như lưu ý từ ông Mười, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và thiếu liên kết ổn định đang khiến DN khó kiểm soát và tối ưu các khoản chi này. Việc đầu tư hạ tầng, cơ giới hóa, kiểm soát quy trình, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc vì thế cũng gặp nhiều trở ngại. DN còn phải bỏ khoản tiền đáng kể để đạt và duy trì các tiêu chuẩn như GlobalGAP, hữu cơ hay ISO.

Chi phí còn bị đội lên bởi những tổn thất sau thu hoạch, vốn thường chưa được tính đúng, tính đủ. Giới chuyên gia ước tính tỷ lệ tổn thất trên 20%, thậm chí 27% do thiếu quy trình và công nghệ bảo quản phù hợp. Những khoản chi kéo dài suốt chuỗi cho thấy DN nhỏ không thể chỉ lo xuất được hàng, mà phải nâng vị trí và giá trị trong chuỗi.

Theo Ts. Hà Thị Cẩm Vân, Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam, cách tiếp cận này cần được áp dụng khi DN Việt bước vào các thị trường XK có tiêu chuẩn cao. Chẳng hạn, tại Australia, DN cần chuyển từ tư duy “xuất được hàng” sang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đây là thị trường có sức mua cao nhưng yêu cầu khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường và trách nhiệm xã hội. Cạnh tranh bằng giá thấp vì vậy ngày càng khó.

Ts. Vân nhấn mạnh DN Việt nên ưu tiên chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và tận dụng các FTA. Với DN nhỏ, một hướng khả thi là liên kết trực tiếp với nhà nhập khẩu, nhà phân phối và DN đầu chuỗi để từng bước nâng vị trí trong chuỗi.

Muốn làm được điều đó, các DN nhỏ cần giảm những khoản chi không trực tiếp tạo ra giá trị. Cắt chi phí XK vì vậy không chỉ để hàng đi rẻ hơn, mà để dành nguồn lực cho chất lượng, công nghệ và thương hiệu. Khi những dịch vụ có thể dùng chung được chia sẻ, DN nhỏ sẽ có thêm dư địa bước lên những khâu tạo giá trị cao hơn.

                                                                                 Thế Vinh

Video Công nghệ cao - đòn bẩy nâng tầm HTX Nghệ An

Từ nhà màng, hệ thống tưới tự động đến cảm biến và chuyển đổi số, các HTX ở Nghệ An đang biến công nghệ thành “đòn bẩy” tăng năng suất, giảm chi phí và gia tăng giá trị nông sản.

VnBusiness