Nhà đầu tư Hoa Kỳ rất quan tâm đến các doanh nghiệp cổ phần hóa (CPH) tại Việt Nam nhưng cái họ muốn thấy là những thay đổi về chính sách pháp luật và những xu hướng phát triển.
Ông Adam Sitkoff, Giám đốc điều hành, Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội đã trao đổi điều này.
Từ quan điểm của các nhà đầu tư, ông có đánh giá gì tình hình chung và về tiến trình CPH các DNNN nói riêng?
Theo tôi hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã làm rất tốt để có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam nhưng họ còn có thể làm tốt hơn nữa để hấp dẫn thêm các nhà đầu tư, vì có rất nhiều nhà đầu tư tốt trên thế giới muốn đầu tư vào Việt Nam, trong đó có các nhà đầu tư đến từ Hoa Kỳ.
Rất nhiều nhà đầu tư mong muốn quá trình ra quyết định của Chính phủ Việt Nam được đẩy nhanh hơn nữa và các quy tắc, quy định được áp dụng bình đẳng cho tất cả các bên tham gia.
Đặc biệt, đối với việc tham gia mua cổ phần của các DNNN CPH hay thoái vốn, các nhà đầu tư cần có một quy trình và thông tin minh bạch để họ biết được chính xác tài sản họ mua như thế nào.
Họ muốn thấy quy trình định giá của các doanh nghiệp được thực hiện theo đúng chuẩn mực quốc tế; và họ muốn nới rộng và hủy bỏ những hạn chế về vốn sở hữu nước ngoài trong các doanh nghiệp cổ phần hóa để các nhà đầu tư có quyền tham gia quản trị rộng hơn và tạo được sự phát triển tốt hơn trong DN.
Một trong những cách thức có thể hấp dẫn nhà đầu tư là Chính phủ nên tiếp tục nói chuyện với DN, tìm hiểu nguyện vọng của DN để tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục khó khăn của họ, qua đó có thể tạo điều kiện tốt hơn cho tất cả các bên.
Thực tế thì vừa rồi việc cổ phần hóa chỉ dừng lại ở 8% vốn và các cổ đông chiến lược hiện tại rất than phiền về quyền lợi và trách nhiệm của các cổ đông lớn trong doanh nghiệp. Vậy điều gì trì hoãn?
Vấn đề chính mà chúng tôi nhận thấy các nhà đầu tư nước ngoài không hài lòng là họ không có đủ quyền theo số lượng cổ phần họ nắm, để tạo ra những thay đổi cần thiết mà công ty họ đầu tư phát triển một cách đầy đủ.
Ví dụ như, tôi được coi là một nhà đầu tư chiến lược, nhưng tôi chỉ được mua có 5% cổ phần trong doanh nghiệp như EVN, làm sao chúng tôi có thể đưa ra những thay đổi cần thiết cho EVN?
Rất nhiều DNNN từ trước đến giờ không sẵn sàng tham gia cạnh tranh trên thị trường như các doanh nghiệp tư nhân. Do đó quá trình để họ có thể sẵn sàng cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác là một quá trình mất rất nhiều thời gian.
Các doanh nghiệp Mỹ có thấy hào hứng về chủ trương CPH tại Việt Nam và cơ hội thực hiện khi chủ trương này đang trên đà phát triển mạnh như vậy?
Hoa Kỳ rất quan tâm đến các DN CPH tại Việt Nam nhưng cái họ muốn thấy là những thay đổi về chính sách pháp luật và những xu hướng phát triển.
Với hầu hết các nhà đầu tư Mỹ, nếu như họ chưa biết rằng: tài sản họ mua như thế nào; (2) giá trị thực tế mà tài sản đó đem lại cho họ ra sao; mức độ họ có thể kiểm soát tài sản đó; và (họ có thể đem đến những thay đổi như thế nào đối với tài sản đó – thì sẽ rất khó khăn để đưa ra quyết định đầu tư cho họ.
Giữa định giá, tỉ lệ sở hữu, sự minh bạch thông tin – ba vướng mắc đó tạo ra ảnh hưởng như thế nào với sự hấp dẫn đầu tư vào thị trường Việt Nam so với CPH ở các nước khác trong khu vực?
Tôi nghĩ là các vấn đề trong quá trình CPH thì nó tương tự nhau, từ Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, hay Indonesia trong lĩnh vực ngân hàng. Cái chính là Chính phủ muốn như thế nào đối với quá trình CPH và họ sẽ đặt ưu tiên ở đâu trong việc tìm kiếm nhà đầu tư tốt nhất, tìm kiếm nguồn lực lớn nhất trong quá trình cổ phần hóa và quyết định của Chính phủ sẽ tạo ra sự khác biệt.
Một sản phẩm tốt chưa đủ để tạo nên một thương hiệu mạnh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, doanh nghiệp cần biết thấu hiểu khách hàng, có trách nhiệm với người lao động và cộng đồng, đồng thời chủ động kết nối thương hiệu của mình với thương hiệu ngành hàng, địa phương và quốc gia.
Trước bối cảnh yêu cầu chống phá rừng và truy xuất nguồn gốc của Liên minh châu Âu (EU) ngày càng khắt khe, các doanh nghiệp xuất khẩu không thể chỉ chú ý đến sản lượng và giá cả, mà đồng thời phải quan tâm sâu hơn đến nguồn gốc của nguyên liệu. Nếu một mắt xích không cung cấp được thông tin cần thiết thì việc truy xuất toàn bộ lô hàng sẽ gặp khó khăn.
Từ sản vật địa phương, nghề truyền thống đến tri thức cộng đồng, phụ nữ vùng cao đang từng bước biến những nguồn lực sẵn có thành sản phẩm và sinh kế. Khi được trao thêm kiến thức, kết nối thị trường và cơ hội đổi mới, những giá trị bản địa có thể trở thành động lực giúp phụ nữ dân tộc thiểu số làm kinh tế bền vững.
Thương mại Việt - Pháp tăng trưởng tích cực, trong khi dòng vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam còn nhiều dư địa. Theo TS Bùi Duy Tùng, giảng viên cấp cao ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam, tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA) có thể tạo xung lực mới cho dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ Pháp vào Việt Nam.
Quy mô gần 1.500 HTX đưa Ninh Bình mới trở thành một trong những địa phương có khu vực kinh tế tập thể lớn nhất cả nước. Nhưng phía sau con số này là bài toán chất lượng: phần đông HTX còn nhỏ, năng lực quản trị hạn chế, khó thu hút nhân lực trẻ và chưa khai thác hết lợi thế OCOP, nông nghiệp và du lịch.
Những vụ thực phẩm bị phát hiện sai lệch về nguồn gốc, xuất xứ cho thấy rủi ro không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở cách thức quảng cáo, kinh doanh trên mạng. Theo Tiến sĩ Trần Thị Dung, muốn ngăn chặn vi phạm từ gốc, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời truy rõ nguồn nguyên liệu, cơ sở sản xuất và trách nhiệm pháp lý của người bán.
Cuộc đua flagship (sản phẩm chủ lực/cao cấp nhất) giữa Apple và Samsung đang nóng lên khi iPhone 18 Pro Max và Galaxy S26 Ultra sở hữu những lợi thế hoàn toàn khác biệt.
Ở vùng miền núi, sản vật không thiếu nhưng để trở thành hàng hóa có giá trị lại không dễ. Từ câu chuyện HTX Dịch vụ nông nghiệp Hùng Anh ở xã Hướng Hiệp, tỉnh Quảng Trị, việc tổ chức lại vùng nguyên liệu, chế biến và kết nối thị trường đang mở thêm...