VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Lời giải cho bài toán liên kết giữa doanh nghiệp Việt và FDI

Lời giải cho bài toán liên kết giữa doanh nghiệp Việt và FDI

Sau gần 40 năm trải thảm đỏ, Việt Nam không còn đo thành công bằng số tỷ USD đăng ký. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đặt ra một phép thử khó hơn nhiều. Đó là doanh nghiệp trong nước có thực sự lớn lên nhờ FDI hay không.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra yêu cầu phải “có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường liên kết với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.” Đây không chỉ là định hướng phát triển khu vực FDI, mà còn phản ánh sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy điều hành.

Nếu trước đây, Việt Nam đặt trọng tâm vào thu hút FDI. Nay mục tiêu chuyển sang khai thác hiệu quả FDI để doanh nghiệp Việt Nam lớn lên. Thước đo không còn là bao nhiêu dự án, bao nhiêu tỷ USD cam kết, mà là doanh nghiệp trong nước mạnh thêm được bao nhiêu nhờ sự liên kết và lan tỏa từ khu vực FDI.

Samsung đang xây nhà máy kiểm thử chip tại Việt Nam
Samsung đang xây nhà máy kiểm thử chip tại Việt Nam

Nghị quyết đặt ra những con số rất cụ thể cho giai đoạn 2026-2030. Mỗi năm thu hút 40-50 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 30-40 tỷ USD và khoảng 75% đến từ các nền kinh tế phát triển mạnh về công nghệ, tài chính, quản trị. Đến năm 2030, Việt Nam vào nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư, có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của khối FDI, trong đó 500-1.000 nhà cung ứng cấp 1, và tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%. Đây mới là phần khó. Hút vốn thì Việt Nam đã làm tốt. Biến vốn ấy thành năng lực cho doanh nghiệp nội mới là bài toán còn bỏ ngỏ.

Vốn ngoại nhiều, lan tỏa ít

Mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và trong nước vẫn còn lỏng lẻo. Nghịch lý lớn nhất sau gần 40 năm nằm ở chỗ khu vực FDI gánh phần lớn kim ngạch xuất khẩu nhưng phần lan tỏa sang doanh nghiệp trong nước lại rất mờ nhạt. Nhiều tập đoàn đa quốc gia đặt nhà máy ở Việt Nam mà vẫn nhập linh kiện từ nước ngoài, đơn giản vì trong nước thiếu nhà cung ứng đạt chuẩn quốc tế. Còn chuyện chuyển giao công nghệ, vốn là lý do quan trọng để Việt Nam ưu đãi cho FDI, đến nay phần lớn vẫn nằm trên giấy.

Hệ quả là phần đông doanh nghiệp Việt Nam mắc kẹt ở phân khúc giá trị thấp. Biểu hiện rõ nhất nằm ở những điểm yếu cố hữu. Thiết bị lạc hậu và năng lực nghiên cứu phát triển (R&D) thấp khiến sản phẩm khó đạt chuẩn. Quản trị chưa theo kịp thông lệ quốc tế, lại thiếu kinh nghiệm vận hành trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Vốn mỏng, khó vay dài hạn nên không dám đầu tư lớn. Nhân lực thì vừa thiếu kỹ sư giỏi vừa thiếu chuyên gia quản trị sản xuất hiện đại.

Nhưng lỗi không chỉ ở doanh nghiệp. Phía sau những điểm yếu đó là một khoảng trống thể chế kéo dài. Đến nay Việt Nam vẫn chưa có Luật Công nghiệp hỗ trợ hoàn chỉnh, chưa có chương trình quốc gia về phát triển nhà cung ứng, chưa có quỹ liên kết FDI với doanh nghiệp trong nước, và cũng chưa có một cơ quan điều phối liên kết FDI ở tầm quốc gia. Doanh nghiệp Việt gần như tự bơi đến chuỗi cung ứng, trong khi lẽ ra Nhà nước phải là người bắc cầu.

Muốn thay đổi, trước hết cần thống nhất 4 quan điểm phát triển cho giai đoạn tới. Liên kết FDI với doanh nghiệp Việt Nam không phải chuyện bên lề mà là một phần của chiến lược phát triển quốc gia. Doanh nghiệp trong nước phải là đối tác của FDI, chứ không chỉ ngồi chờ thụ hưởng. Ưu đãi cho nhà đầu tư ngoại cần gắn với hiệu quả lan tỏa thực tế, ai tạo liên kết và chuyển giao công nghệ nhiều thì được ưu đãi nhiều, thay vì cào bằng. Và Nhà nước phải đứng ra kiến tạo cả một hệ sinh thái, chứ không thể đứng ngoài.

Nhà nước bắc cầu, doanh nghiệp vào cuộc

Từ 4 quan điểm đó dẫn tới một bộ chính sách gồm 7 cấu phần, vận hành đồng bộ với nhau.

Trụ cột đầu tiên là chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng Việt Nam, hướng thẳng tới mục tiêu 10.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng FDI vào năm 2030 mà Nghị quyết 10 đặt ra. Nhà nước đứng ra lo phần khó nhất với doanh nghiệp nhỏ, đó là chi phí đạt chứng nhận quốc tế, chuyển đổi số, sản xuất thông minh, đáp ứng tiêu chuẩn ESG và lộ trình Net Zero. Mức hỗ trợ 50-70% chi phí tư vấn và chứng nhận đủ lớn để kéo doanh nghiệp dám bước qua ngưỡng.

Đi cùng là một quỹ phát triển liên kết FDI và doanh nghiệp Việt Nam, nhằm gỡ nút thắt kinh điển là thiếu vốn rẻ và dài hạn. Quỹ cho vay ưu đãi với các hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển, tự động hóa và mở rộng sản xuất, lãi suất thấp hơn thị trường 2-4%.

Có tiền, có chuẩn vẫn chưa đủ nếu hai bên không nhìn thấy nhau. Vì vậy cần công bố dữ liệu quốc gia về chuỗi cung ứng, buộc doanh nghiệp FDI công khai nhu cầu linh kiện, nguyên liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và kế hoạch mua hàng, còn doanh nghiệp Việt được tra cứu trực tuyến miễn phí. Minh bạch thông tin cũng chính là cơ sở để xét ưu đãi cho FDI dựa trên hiệu quả liên kết thực tế.

Với những lĩnh vực mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và năng lượng mới, chuyển giao công nghệ không thể trông chờ vào thiện chí. Các dự án lớn cần bắt buộc kèm theo kế hoạch phát triển nhà cung ứng Việt Nam và kế hoạch chuyển giao công nghệ, để cam kết trở thành điều kiện chứ không phải lời hứa.

Để hai khối doanh nghiệp thực sự gặp nhau, 5 trung tâm đổi mới sáng tạo và liên kết FDI sẽ được lập tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, làm nơi đào tạo, thử nghiệm công nghệ và hỗ trợ nghiên cứu phát triển.

Một nền công nghiệp mạnh cần có những đầu tàu. Chương trình phát triển doanh nghiệp đầu đàn chọn ra 100-200 doanh nghiệp Việt, ưu tiên cơ khí chính xác, điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, logistics và công nghệ xanh, để dồn nguồn lực hỗ trợ đặc biệt về tín dụng, đất đai, nghiên cứu phát triển, đào tạo nhân lực và xúc tiến đầu tư. Mục tiêu là dựng lên những tập đoàn Việt Nam có vị thế khu vực, đủ sức dẫn dắt cả chuỗi phía sau.

Cuối cùng, Nhà nước hỗ trợ hoạt động mua bán, sáp nhập và liên doanh giữa FDI với doanh nghiệp trong nước, từ tư vấn pháp lý, thẩm định đến xúc tiến hợp tác, để doanh nghiệp Việt lớn nhanh hơn về quy mô thay vì mãi nhỏ lẻ.

7 trụ cột này chỉ phát huy tác dụng khi vận hành đồng bộ, bởi thiếu một mắt xích là cả chuỗi lỏng ra. Suy cho cùng, thành công của Nghị quyết 10 sẽ không được đo bằng số dự án hay tổng vốn đăng ký, mà bằng việc doanh nghiệp Việt Nam lớn lên đến đâu sau mỗi vòng liên kết với FDI. Đích đến năm 2045 là biến Việt Nam từ một nơi tiếp nhận vốn thành một quốc gia có năng lực công nghiệp, công nghệ và doanh nghiệp đủ sức tham gia, thậm chí dẫn dắt các chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhìn rộng ra, Nghị quyết 10 nhiều khả năng sẽ là một trong những trụ cột của chiến lược FDI thế hệ mới giai đoạn 2026-2045, bên cạnh thu hút FDI công nghệ cao, phát triển nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Những trụ cột ấy chỉ đứng vững khi tựa vào nhau.

Phan Hữu Thắng

Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài

Video Mật ong Phương Di: Tỏa sáng từ đại ngàn Tây Nguyên

Từ những cánh rừng hoa bạt ngàn của Gia Lai, HTX Mật ong Phương Di Bee đã xây dựng thành công chuỗi giá trị mật ong bền vững, đưa sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia vươn xa và được Liên minh HTX Việt Nam trao tặng Giải Mai An Tiêm năm 2026.

VnBusiness