Từ một địa phương miền núi với nhiều khó khăn về hạ tầng, khoảng cách địa lý và thị trường tiêu thụ, Sơn La đang từng bước khẳng định vị thế là một trong những trung tâm sản xuất nông nghiệp hàng hóa của vùng Tây Bắc.
Thành công hiện tại không chỉ đến từ lợi thế về điều kiện tự nhiên hay sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mà còn được tạo nên bởi vai trò ngày càng nổi bật của các HTX trong việc liên kết sản xuất, tổ chức chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học công nghệ, và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ.
Hiện đại hóa là yêu cầu tất yếu
Hiện nay, toàn tỉnh Sơn La có 6 liên hiệp HTX, 825 HTX nông nghiệp, 27 tổ hợp tác và 257 trang trại. Sự phát triển nhanh về số lượng kéo theo yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương thức quản trị, tổ chức sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Nếu như trước đây, nhiều HTX vẫn chủ yếu hoạt động theo phương thức truyền thống thì nay, chuyển đổi số đang tạo ra bước chuyển căn bản trong cách thức điều hành, kết nối thị trường và quản lý sản xuất.
Bức tranh HTX nông nghiệp Sơn La
Quy mô lực lượng sản xuất nông nghiệp đổi mới và lộ trình chuyển đổi chuỗi giá trị số
truyền thống
Chuyển đổi số
số
điện tử
Chuỗi giá trị
Nhận thức rõ điều đó, tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ HTX tiếp cận công nghệ số. Các lớp tập huấn trực tuyến được tổ chức thường xuyên nhằm hướng dẫn sử dụng phần mềm nhật ký sản xuất, phần mềm kế toán, kỹ năng bán hàng trên môi trường số và quản trị HTX. Song song với đó là việc hỗ trợ các HTX đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử.
Đến nay, toàn tỉnh đã có 70 sản phẩm nông sản xuất hiện trên sàn buudien.vn, 60 sản phẩm tham gia sàn sonla.sanviet.vn; 42 doanh nghiệp, HTX với 50 sản phẩm tiêu biểu được quảng bá trên cổng thông tin xúc tiến thương mại của tỉnh.
Những con số trên cho thấy chuyển đổi số không còn là khái niệm mang tính xu hướng mà đã trở thành công cụ thiết thực giúp các HTX tiếp cận khách hàng ở phạm vi rộng hơn, giảm phụ thuộc vào thương lái và từng bước xây dựng kênh tiêu thụ bền vững.
Điểm đáng chú ý là chuyển đổi số tại Sơn La không chỉ dừng ở khâu bán hàng mà còn được triển khai ngay từ quá trình sản xuất. Dữ liệu canh tác được số hóa thông qua nhật ký điện tử, mã số vùng trồng và hệ thống truy xuất nguồn gốc, tạo nên chuỗi thông tin minh bạch từ nông trại đến bàn ăn. Đây chính là nền tảng quan trọng để nông sản đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Toàn tỉnh hiện duy trì 218 mã số vùng trồng với tổng diện tích gần 3.000 ha, trong đó có 202 mã số phục vụ xuất khẩu trên diện tích hơn 2.800 ha. Các mã số được cấp cho nhiều loại cây trồng chủ lực như xoài, nhãn, chuối, mận... phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand và Liên minh châu Âu.
Đặc biệt, đã có 63 HTX được hỗ trợ cấp mã số vùng trồng, tạo điều kiện chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường.
Hiệu quả rõ nét của chuyển đổi số
Đáng chú ý, thời gian qua tỉnh Sơn La còn hỗ trợ các HTX ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc bằng tem QR code, đồng thời từng bước thí điểm blockchain và Internet vạn vật (IoT) để quản lý vùng nguyên liệu, giám sát quá trình sản xuất.
Những công nghệ mới giúp HTX minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng, tăng niềm tin của người tiêu dùng và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng nghiêm ngặt của nhiều thị trường nhập khẩu.
Chuỗi số hóa nông sản
Quy trình minh bạch dữ liệu khép kín từ vùng nguyên liệu đến thị trường quốc tế
Thực tế tại nhiều HTX đã cho thấy hiệu quả rõ nét của chuyển đổi số. Tại HTX Nông nghiệp xanh Tây Bắc, xã Phiêng Khoài, việc ứng dụng công nghệ đã mở ra hướng đi mới trong tiêu thụ nông sản.
Theo bà Lê Hương Mơ, Phó Giám đốc HTX, vào mùa thu hoạch mận chín sớm, HTX không chỉ liên kết thu mua sản phẩm của các nhà vườn mà còn đẩy mạnh livestream bán hàng trên nền tảng TikTok và các sàn thương mại điện tử.
Song song với đó, HTX áp dụng nhật ký sản xuất điện tử và gắn mã QR truy xuất nguồn gốc cho từng sản phẩm. Nhờ vậy, sản phẩm tiếp cận được nhiều khách hàng ngoài tỉnh, đầu ra ổn định hơn, đồng thời tạo dựng niềm tin đối với người tiêu dùng.
Hay như HTX Cà phê Bích Thao, phường Chiềng Cơi, với vùng nguyên liệu khoảng 150 ha cà phê đặc sản, mỗi năm HTX thu mua và xuất khẩu từ 2.000 đến 4.000 tấn cà phê nhân, trong đó khoảng 95% sản lượng được xuất khẩu sang các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Đặc biệt, sản phẩm cà phê bột nguyên chất của HTX đã đạt OCOP 5 sao cấp quốc gia. Thành công này có sự đóng góp quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất và chế biến.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc HTX, để mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn xuất khẩu, HTX vẫn cần được hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ cấp mã số vùng trồng, chứng nhận VietGAP và hệ thống truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Những mô hình trên cho thấy chuyển đổi số không chỉ giúp HTX bán được nhiều hàng hơn mà còn thay đổi toàn diện phương thức sản xuất, quản trị và xây dựng thương hiệu. Đây cũng là tiền đề để phát triển các sản phẩm OCOP.
Từ đầu năm đến nay, Sơn La đã đánh giá, phân hạng thêm 47 sản phẩm, nâng tổng số lên 258 sản phẩm OCOP từ 3 đến 5 sao với sự tham gia của hơn 100 HTX. Mỗi sản phẩm OCOP không chỉ phản ánh chất lượng mà còn là kết quả của quá trình ứng dụng công nghệ, tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất và xây dựng thương hiệu.
Thị trường xuất khẩu nông sản Sơn La
Mã số vùng trồng, sản phẩm OCOP và bản đồ kết nối nông sản Sơn La với các thị trường xuất khẩu trọng điểm
Xã Phiêng Khoài
Livestream bán mận chín sớm trên TikTok & TMĐT; ứng dụng nhật ký điện tử, mã QR truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Phường Chiềng Cơi
Vùng nguyên liệu 150 ha cà phê đặc sản, xuất khẩu 2.000-4.000 tấn/năm, 95% đi EU, Nhật Bản, Hàn Quốc; sản phẩm cà phê bột đạt OCOP 5 sao quốc gia.
"Chuyển đổi số không chỉ giúp bán hàng mà còn thay đổi toàn bộ phương thức quản trị và xây dựng thương hiệu."
Giá trị bền vững từ tài sản trí tuệ
Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, chuyển đổi số mới chỉ là một nửa chặng đường. Điều quyết định khả năng gia tăng giá trị lâu dài của nông sản chính là tài sản trí tuệ. Một sản phẩm có chất lượng tốt nhưng không được bảo hộ thương hiệu sẽ rất dễ bị làm giả, bị chiếm dụng tên gọi hoặc mất lợi thế cạnh tranh khi bước ra thị trường lớn.
Thực tế, Sơn La đã đạt được nhiều kết quả tích cực khi có 31 sản phẩm nông sản được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, gồm 3 chỉ dẫn địa lý, 26 nhãn hiệu chứng nhận và 2 nhãn hiệu tập thể. Đây là nền tảng quan trọng giúp nâng cao uy tín, bảo vệ giá trị đặc sản địa phương và tạo lợi thế khi tham gia các thị trường cao cấp.
Tuy nhiên, so với quy mô hơn 800 HTX nông nghiệp, số lượng sản phẩm được bảo hộ vẫn còn khá khiêm tốn, cho thấy dư địa rất lớn trong việc phát triển tài sản trí tuệ.
Tài sản trí tuệ của nông sản Sơn La
Cơ cấu 31 sản phẩm nông sản đã được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ chính thức
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, các HTX cần thay đổi nhận thức, coi việc đăng ký bảo hộ thương hiệu, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì, bản quyền thiết kế, mã QR truy xuất nguồn gốc hay các hình thức bảo hộ tài sản trí tuệ khác không còn là thủ tục hành chính mà là khoản đầu tư cho tương lai.
Khi sản phẩm được bảo hộ đầy đủ, HTX sẽ có cơ sở pháp lý để bảo vệ uy tín, ngăn chặn hàng giả, đồng thời nâng cao giá trị thương mại, thuận lợi hơn trong đàm phán với các hệ thống phân phối hiện đại cũng như đối tác xuất khẩu.
Quan trọng hơn, chuyển đổi số và tài sản trí tuệ cần được xem là hai trụ cột bổ trợ cho nhau. Công nghệ số tạo ra dữ liệu minh bạch về quy trình sản xuất, vùng nguyên liệu và chất lượng sản phẩm; trong khi tài sản trí tuệ bảo vệ những giá trị vô hình được tạo ra từ quá trình đó.
Một sản phẩm có mã QR truy xuất nguồn gốc, được sản xuất trong vùng trồng đạt chuẩn, mang thương hiệu đã được bảo hộ và sở hữu bao bì chuyên nghiệp sẽ có sức cạnh tranh vượt trội so với sản phẩm chỉ đáp ứng yêu cầu về chất lượng.
Hai trụ cột nâng giá trị nông sản
Chuyển đổi số
Tạo minh bạch
Tài sản trí tuệ
Bảo vệ giá trị
Dẫu vậy, quá trình chuyển đổi số của các HTX Sơn La vẫn còn không ít rào cản. Phần lớn HTX có quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính hạn chế, thành viên chủ yếu là nông dân nên kỹ năng công nghệ chưa đồng đều.
Nhiều phần mềm sau khi được hỗ trợ chưa được duy trì sử dụng thường xuyên. Đội ngũ khuyến nông cộng đồng tuy tâm huyết nhưng còn thiếu kỹ năng số, hoạt động chủ yếu theo hình thức kiêm nhiệm nên hiệu quả chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn.
Để tháo gỡ những nút thắt này, Sơn La đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ theo hướng thiết thực và dễ tiếp cận hơn. Trọng tâm là đào tạo kỹ năng số cho thành viên HTX, xây dựng đội ngũ nhân lực có khả năng ứng dụng công nghệ ngay tại cơ sở; hỗ trợ duy trì và vận hành các nền tảng số sau đầu tư; tiếp tục số hóa dữ liệu, kết nối và liên thông các hệ thống thông tin dùng chung.
Đồng thời, tỉnh cần đẩy mạnh hình thành vùng nguyên liệu tập trung đủ điều kiện cấp mã số vùng trồng, nâng cao năng lực cho lực lượng khuyến nông cộng đồng, tăng cường truyền thông về truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và bảo hộ tài sản trí tuệ, giúp HTX phát triển bền vững, chinh phục thị trường, đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.