VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Doanh nghiệp

EU đổi luật chơi, hàng Việt đối mặt cuộc sàng lọc mới

EU đổi luật chơi, hàng Việt đối mặt cuộc sàng lọc mới

Các quy định mới về xuất xứ, phát thải và trách nhiệm chuỗi cung ứng đang định hình lại điều kiện tiếp cận thị trường EU. Doanh nghiệp Việt cần sớm rà soát sản phẩm, chuẩn hóa dữ liệu và điều chỉnh quy trình sản xuất để không đánh mất lợi thế xuất khẩu.

Liên minh châu Âu (EU) là một trong những đối tác thương mại và thị trường xuất khẩu quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Kể từ khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực vào tháng 8/2020, hàng hóa Việt Nam được hưởng lợi từ lộ trình xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 99% số dòng thuế.

Tuy nhiên, thuế nhập khẩu thấp không đồng nghĩa với việc hàng hóa chắc chắn được nhà mua hàng châu Âu lựa chọn. Khi EU tiếp tục mở rộng mạng lưới hiệp định thương mại tự do với các đối tác, lợi thế về thuế của Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh cũng dần thu hẹp.

Trong khi đó, điều kiện tiếp cận thị trường đang thay đổi theo hướng toàn diện hơn. Giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng vẫn quan trọng, nhưng không còn là những tiêu chí duy nhất quyết định khả năng cạnh tranh.

Lợi thế thuế quan không còn là yếu tố quyết định

Tại buổi trò chuyện trực tuyến với cộng đồng doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển, kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia, nhận định thị trường EU đang có những thay đổi sâu sắc.

“Họ còn muốn biết nguyên liệu đến từ đâu, quá trình sản xuất ra sản phẩm bằng nguồn năng lượng nào, tạo ra phát thải bao nhiêu hoặc điều kiện lao động ra sao. Hơn hết, họ cần biết tất cả những dữ liệu này có thể truy xuất được không. Tức là họ yêu cầu truy xuất đến toàn bộ chuỗi cung ứng, tất cả dữ liệu phải được kiểm chứng chứ không dừng lại ở cam kết của nhà cung cấp như trước”, bà Thúy nhấn mạnh.

Điều đó có nghĩa, doanh nghiệp xuất khẩu không chỉ cần chứng minh sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn, mà còn phải cung cấp bằng chứng về cách thức sản phẩm được tạo ra.

Một ví dụ được Tham tán dẫn ra là chuỗi cung ứng của H&M, tập đoàn thời trang lớn của Thụy Điển. Theo bà, H&M yêu cầu các nhà cung cấp tại Việt Nam đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà, lắp đặt lò hơi sinh khối và chuyển đổi nhiên liệu lò hơi để đáp ứng mục tiêu giảm phát thải.

Những yêu cầu này kéo theo thay đổi đáng kể về công nghệ và chi phí sản xuất, đồng thời cho thấy tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp đang mở rộng sang năng lực chuyển đổi và phát triển dài hạn.

“Trường hợp này cho thấy xu hướng nhà nhập khẩu không chỉ lựa chọn sản phẩm, mà còn đánh giá khả năng chuyển đổi và phát triển dài hạn của nhà cung cấp”, bà Thúy nhận định.

Các mốc quy định pháp lý doanh nghiệp xuất khẩu EU cần lưu ý.
Các mốc quy định pháp lý doanh nghiệp xuất khẩu EU cần lưu ý.

Ở góc độ chính sách, tại một tọa đàm trước đó, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên, cũng chỉ ra những thay đổi cơ bản của thị trường EU, từ xu hướng bảo hộ các ngành công nghiệp trọng điểm trong khối đến việc tăng cường yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Theo ông, EU không chỉ quan tâm đến quy tắc xuất xứ mà còn chú trọng phương thức sản xuất hàng hóa, đồng thời thúc đẩy ý tưởng xây dựng chuỗi cung ứng với những đối tác đồng minh, tin cậy.

“Tất cả những chính sách này cho thấy EU ngày càng muốn đảm bảo rằng tất cả hàng hoá xuất khẩu sang không chỉ đáp ứng các quy tắc xuất xứ mà đáp ứng cả về cách thức sản xuất. Chúng ta thấy EU cũng có ý tưởng thúc đẩy các chuỗi cung ứng dựa trên các đối tác đồng minh, tin cậy. Doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường này bây giờ cần nhìn nhận, vào được thị trường rồi thì làm sao để tồn tại, phát triển và có chỗ đứng bền vững”, ông Khanh nói.

Theo Tham tán Nguyễn Thị Hoàng Thúy, để xuất khẩu thành công sang EU, doanh nghiệp cần đáp ứng đồng thời ba nhóm yêu cầu.

Thứ nhất là các quy định pháp lý bắt buộc của EU về an toàn sản phẩm, hóa chất, kiểm dịch động thực vật và môi trường.

Thứ hai là những quy định riêng của từng quốc gia thành viên đối với các lĩnh vực chưa được thống nhất trong toàn khối.

Thứ ba là tiêu chuẩn của từng nhà mua hàng, bao gồm yêu cầu về chất lượng, chứng nhận, kiểm toán, trách nhiệm xã hội và các mục tiêu phát triển bền vững do tập đoàn hoặc hệ thống phân phối đặt ra.

Đáng chú ý, EU đang triển khai hoặc chuẩn bị áp dụng nhiều quy định có khả năng tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.

Trong đó có Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), Quy định chống mất rừng (EUDR), Quy định về thiết kế sinh thái và hộ chiếu sản phẩm số (ESPR/DPP), Quy định về bao bì và chất thải bao bì (PPWR), các quy định về báo cáo bền vững và thẩm định chuỗi hoạt động (CSRD/CSDDD), cùng quy định cấm sản phẩm có sử dụng lao động cưỡng bức (FLR).

Các quy định này có phạm vi áp dụng và lộ trình thực hiện khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định chính xác những nghĩa vụ liên quan đến ngành hàng, sản phẩm và thị trường xuất khẩu của mình, thay vì áp dụng một cách tiếp cận chung cho mọi đơn hàng.

Tổng hợp mốc thời gian quy định từ EU và hành động doanh nghiệp Việt Nam cần làm. (Nội dung: Tham tán Nguyễn Thị Hoàng Thuý, thiết kế: AI)
Tổng hợp mốc thời gian quy định từ EU và hành động doanh nghiệp Việt Nam cần làm. (Nội dung: Tham tán Nguyễn Thị Hoàng Thuý, thiết kế: AI)

Doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi từ gốc

Trước những thay đổi này, yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp không chỉ là cập nhật quy định mà còn phải đưa hoạt động tuân thủ vào toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh.

Tham tán Nguyễn Thị Hoàng Thúy khuyến nghị doanh nghiệp bắt đầu bằng việc xác định yêu cầu áp dụng cho từng sản phẩm dựa trên mã hàng, thành phần, công dụng, thị trường nhập khẩu và phân khúc khách hàng.

Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cần lập bản đồ tuân thủ, xây dựng hệ thống hồ sơ sản phẩm với đầy đủ thông tin về nguyên liệu, quy trình sản xuất, kết quả kiểm nghiệm, chứng nhận liên quan và dữ liệu truy xuất nguồn gốc.

Quan trọng hơn, các yêu cầu này phải được tính toán ngay từ khâu thiết kế sản phẩm, lựa chọn nguyên liệu và tổ chức sản xuất, thay vì đợi đến khi chuẩn bị xuất khẩu mới tiến hành rà soát.

“Một sản phẩm nếu được thiết kế đúng ngay từ đầu sẽ tiết kiệm đáng kể chi phí so với việc về sau phải thay đổi nguyên liệu, bao bì hay kiểm nghiệm, hoặc thậm chí là bị từ chối nhập khẩu”, bà Thúy cảnh báo.

Thực tế tại Công ty DACE, doanh nghiệp xuất khẩu gia vị đến 16 quốc gia, cho thấy việc đáp ứng tiêu chuẩn EU đòi hỏi sự tham gia của cả chuỗi cung ứng.

Ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc điều hành DACE, cho biết thị trường châu Âu hiện chiếm 65% doanh thu của doanh nghiệp. Cùng với yêu cầu ngày càng cao về giới hạn kim loại nặng và vi sinh, các đối tác còn đòi hỏi khả năng chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, quá trình trồng trọt, thu mua và chế biến bằng dữ liệu truy xuất rõ ràng.

Để đáp ứng các tiêu chí này, DACE phát triển 2.300 ha vùng nguyên liệu hữu cơ tại Cao Bằng, liên kết với hơn 3.000 hộ dân. Doanh nghiệp thường xuyên tổ chức tập huấn cho nông dân về kỹ thuật, bình đẳng giới, lập kế hoạch và triển khai các hoạt động hỗ trợ khác tại địa phương.

Việc hợp tác với hàng nghìn hộ dân giúp doanh nghiệp tổ chức vùng nguyên liệu gia vị hữu cơ theo phương pháp canh tác truyền thống, tránh sử dụng hóa chất tổng hợp, đồng thời tăng khả năng kiểm soát chất lượng từ đầu vào.

Theo ông Hiếu, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường không thể chỉ dừng ở kiểm nghiệm thành phẩm hoặc sở hữu các chứng nhận.

“Chúng ta cần phải có tiếng nói chung với khách hàng. Đó là ngôn ngữ chung về khoa học, về số liệu, về minh chứng”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Từ kinh nghiệm của DACE, ông khuyến nghị doanh nghiệp xây dựng bộ tài liệu và thông tin kỹ thuật sản phẩm rõ ràng, chuyên nghiệp để phục vụ quá trình làm việc với đối tác.

Doanh nghiệp hợp tác với hàng nghìn hộ dân để trồng các loại gia vị hữu cơ tuân thủ phương pháp canh tác truyền thống, tránh sử dụng hóa chất tổng hợp. Ảnh DACE
Doanh nghiệp hợp tác với hàng nghìn hộ dân để trồng các loại gia vị hữu cơ tuân thủ  phương pháp canh tác truyền thống, tránh sử dụng hóa chất tổng hợp. Ảnh DACE

Các yêu cầu về carbon, chống mất rừng, bao bì và trách nhiệm chuỗi cung ứng có thể làm tăng chi phí tuân thủ, buộc doanh nghiệp đầu tư thêm vào công nghệ, quản trị và hệ thống dữ liệu.

Tuy nhiên, theo Tham tán Nguyễn Thị Hoàng Thúy, nếu nhìn ở góc độ dài hạn, quá trình nâng chuẩn của EU cũng tạo ra sự sàng lọc trên thị trường. Những doanh nghiệp đầu tư bài bản, nghiêm túc có cơ hội tái định hình năng lực cạnh tranh và tạo lợi thế so với các đối thủ chậm chuyển đổi.

Cùng quan điểm về yêu cầu chủ động thích ứng, ông Ngô Chung Khanh cho rằng doanh nghiệp không nên chờ đến khi quy định có hiệu lực mới tìm cách xử lý.

“EU đã có những biến chuyển, doanh nghiệp cần đánh giá ngay tác động và những rủi ro về quy tắc xuất xứ, phòng vệ thương mại, phát triển bền vững… từ đó, dự trù trước và có đề xuất đến các hiệp hội, bộ ngành để được hỗ trợ, tháo gỡ”, ông Khanh nhận định.

Trong bối cảnh lợi thế thuế quan dần thu hẹp và yêu cầu thị trường ngày càng cao, năng lực cạnh tranh của hàng Việt tại EU sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng, minh bạch dữ liệu và đáp ứng tiêu chuẩn của đối tác.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, việc cần làm ngay là rà soát nghĩa vụ tuân thủ theo từng sản phẩm, nhận diện rủi ro trong chuỗi cung ứng và xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp. Đây không chỉ là cách hạn chế nguy cơ mất đơn hàng mà còn là nền tảng để duy trì vị thế lâu dài tại thị trường EU.

Đỗ Kiều

VnBusiness
VnBusiness