VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Việt Nam

Doanh nghiệp Việt: Đường nào đến “chuỗi giá trị toàn cầu”?

Doanh nghiệp Việt: Đường nào đến “chuỗi giá trị toàn cầu”?

Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ muốn duy trì tăng trưởng phải làm cách khác, nếu không sẽ rơi vào bẫy lắp ráp, gia công với giá trị gia tăng thấp. Tuy nhiên, để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thế hệ mới là câu chuyện không hề dễ khi cánh cửa cơ hội ngày một hẹp dần và những “nút thắt” chính sách vẫn chưa được tháo bỏ.

 

Ngân hàng Thế giới và Bộ Công Thương vừa công bố hai báo cáo với tiêu đề “Việt Nam trước ngã rẽ: Tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu thế hệ mới” và “Nghiên cứu về tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ” đã cho thấy rõ nét thực trạng này.

Cửa cơ hội hẹp dần

Với báo cáo “Việt Nam trước ngã rẽ: Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thế hệ mới”, ông Charles Kunaka, chuyên gia kinh tế trưởng, Vụ Thương mại, Khối Thương mại và Cạnh tranh, Ngân hàng Thế giới, đánh giá, Việt Nam bị kẹt ở bẫy giá trị gia tăng thấp do không thể phát triển các chức năng có giá trị cao hoặc cần năng lực đổi mới sáng tạo.

Cụ thể, Việt Nam hiện đang đứng trước thách thức dư địa dành cho DN sản xuất trong nước không nhiều do những DN đầu đàn quy mô lớn (Samsung, Ford, Toyota…) trong các chuỗi giá trị toàn cầu thường sử dụng cùng các nhà cung cấp toàn cầu ở khắp mọi nơi. Các công đoạn giá trị cao như đổi mới sáng tạo, thiết kế, sản xuất phụ tùng, cấu kiện lõi nằm ngoài Việt Nam, dẫn tới rủi ro về lâu dài khi các đối thủ cạnh tranh có chi phí thấp hơn ra khỏi Việt Nam.

Theo ông Kunaka, vấn đề đối với Việt Nam trước ngã rẽ đó là Việt Nam có thể tiếp tục phát triển để làm căn cứ xuất khẩu cho các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và chuyên sâu vào các chức năng gia công, lắp ráp đem lại giá trị gia tăng thấp cũng như công nghiệp hóa theo cách riêng của mình mà không kết nối nhiều với nền kinh tế và xã hội bên ngoài. Hoặc Việt Nam có thể tận dụng làn sóng tăng trưởng hiện nay để đa dạng hóa và vươn lên trong chuỗi giá trị nhằm tham gia vào các công đoạn đem lại giá trị gia tăng cao hơn, đồng thời tận dụng cơ hội để nuôi dưỡng những DN còn non trẻ trong nước thêm tự chủ, năng động và đổi mới sáng tạo, để một ngày nào đó có thể tạo ra sản phẩm “sáng chế tại Việt Nam” của riêng họ.

“Thành công của cả hai hướng trên đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam phải nhìn nhận quá trình phát triển theo cách khác hẳn và phải cân nhắc đầy đủ hơn những thực tế mới của nền kinh tế toàn cầu”, ông Kunaka nói.

Trong khi đó, tại báo cáo “Việt Nam: Khả năng cạnh tranh và kết nối của DN” cho thấy, bối cảnh khu vực tư nhân trong nước còn yếu, khu vực FDI có hiệu ứng lan tỏa hạn chế. Công nghiệp hỗ trợ trong nước còn tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia, Thái Lan.

Đáng chú ý, phân tích cấp DN, bà Asya Akhlaque, chuyên gia kinh tế trưởng, Nhóm Ngân hàng Thế giới, cho biết, về phía cầu – DN đa quốc gia có tỷ lệ công ty nước ngoài sử dụng đầu vào trong nước còn khá thấp ở Việt Nam; còn phía cung – nhà cung cấp trong nước, tỷ lệ công ty trong nước “có kết nối” xuất khẩu gián tiếp tối thiểu 1% đầu ra ở Việt Nam thấp hơn so với các quốc gia tương đương, ví dụ Trung Quốc và Malaysia.

Nhận định nguyên nhân thất bại thị trường nằm trong các chương trình kết nối, bà Asya Akhlaque cho biết, thiếu nhà cung cấp trong nước cạnh tranh. Số công ty nước ngoài có chứng nhận chất lượng quốc tế nhiều hơn công ty trong nước có hoặc không có kết nối. Thiếu nhà cung cấp trong nước có khả năng cạnh tranh nghĩa là công ty nước ngoài sẽ tìm kiếm ở nơi khác và kết nối với các công ty có thể cung cấp một cách ổn định về chất lượng, khối lượng, giá cả và kịp thời các đầu vào cần thiết cho sản xuất.

Chính vì vậy, ông Nguyễn Thắng, Giám đốc Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, nhìn nhận, Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ muốn duy trì tăng trưởng phải làm cách khác, nếu không sẽ rơi vào bẫy lắp ráp, giá trị gia tăng thấp.

“Chúng ta có cửa sổ cơ hội nhưng đang thu hẹp dần vì chịu sức ép cạnh tranh từ hai phía, phía nhà cung ứng rẻ hơn như Campuchia, Bangladesh, Myanmar; bên kia là công nghệ số hóa được đẩy mạnh, các tập đoàn đa quốc gia chọn đặt nhà máy ở đâu có thể số hóa, tự động hóa hơn là vì cần lao động như trước kia”, ông Nguyễn Thắng nói. Là một DN đang cung ứng nguyên phụ tùng cho DN FDI, ông Hoàng Minh Trí, Giám đốc công ty 4P, chia sẻ, để trở thành đối tác cung ứng cho khối ngoại là câu chuyện vô cùng khó khăn.

VnBusiness

Hiện nay chỉ 300 DN Việt đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng phụ tùng thay thế
mà chưa tham gia sản xuất được các sản phẩm chính

Ưu đãi không tới DN

Ông Trí cho biết: “DN Việt có rất nhiều khó khăn khi tham gia vào chuỗi cung ứng, trước hết là hàng rào thủ tục hành chính và quy định pháp luật quá nhiều. Trước đây, xác định ngành công nghiệp điện tử là công nghiệp trọng điểm, Chính phủ đã có những chính sách ưu đãi, nhưng sau một thời gian, số DN thụ hưởng chính sách này hầu như không có, đâu đó chỉ một DN nhưng lại là DN FDI”.

Theo ông Trí, Chính phủ đã ban hành Nghị định 111/2015/NĐ-CP về Phát triển công nghiệp hỗ trợ, DN ông là một trong ít DN nằm trong 2 – 3 DN được xác nhận là DN phụ trợ. Vì vậy, DN cố gắng để thụ hưởng các ưu đãi từ Nghị định này, nhưng khi đưa xuống cơ quan quản lý chuyên ngành lại bị họ lật lại vấn đề yêu cầu này kia.

Cụ thể, DN phải có dự án từ năm 2005, không có dự án không được ưu đãi. Ông Trí ví von: “Hệ thống chính sách của chúng ta rất phức tạp, khó khăn. Nó giống kiểu nhiều thợ may cùng may ra áo, nhưng mỗi người may hình dung người mặc khác nhau. Chính sách bao trùm quá nhiều nhưng không phù hợp với đối tượng cụ thể nào. Trong khi DN còn khó khăn về trình độ công nghệ, khả năng tiếp cận vốn, đất đai”.

Ts. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài đặt vấn đề, để nâng cao sự kết nối giữa khối DN trong nước với DN nước ngoài, chính sách phải có sự hậu thuẫn như thế nào khi hiện nay, DN vốn ngoại 100% đã chiếm tới 82%. Vậy làm sao có thể liên kết với DN Việt? Đặc biệt, mối liên kết này sở dĩ còn lỏng lẻo là vì thiếu sự hỗ trợ tích cực của các DN FDI, nếu họ biết dành một phần lợi nhuận hỗ trợ DN Việt trong việc đào tạo cung ứng các thiết bị công nghệ cao thì đã khác nhưng thực tế, họ chỉ yêu cầu là chủ yếu, yêu cầu DN Việt phải thế này thế kia.

“Thay bằng đòi hỏi phải đáp ứng điều kiện này, điều kiện kia, các DN FDI nên dành lợi nhuận quay sang đào tạo đội ngũ lao động giúp DN Việt. Bên cạnh đó, Chính phủ cần có chính sách về hỗ trợ vốn giúp DN Việt nâng cao năng lực cạnh tranh”, ông Thắng đề xuất.

Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cho rằng, các DN FDI hiện nay không có nhu cầu bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa nên họ sẽ tự chọn ai đáp ứng được nhu cầu của họ. Về phía DN Việt, vì tự ti cao, thiếu thông tin nên khó tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của DN FDI. Đồng thời cần phải chú trọng tới mối liên kết gữa các DN trong nước với nhau trước khi bàn tới kết với DN FDI.

Lê Thúy

Ông Đỗ Thắng Hải - Thứ trưởng Bộ Công Thương

Quá trình số hóa thương mại và hội nhập quốc tế đã giúp Việt Nam trở thành địa chỉ hấp dẫn về đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cùng chung nhận định, Việt Nam đang ở vị trí thấp của chuỗi giá trị toàn cầu, chỉ thực hiện khâu mang lại giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp. Ước tính hiện nay chỉ 300 DN Việt đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng phụ tùng thay thế mà chưa tham gia sản xuất được các sản phẩm chính.

Bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Phát triển DN (Bộ KH&ĐT)

Chính sách thu hút FDI thời gian qua đã thất bại vì nó không tạo được mối liên kết giữa DN FDI và khối nội, thậm chí hai khối DN này ngày càng xa nhau. DN FDI càng phát triển, DN trong nước ngày càng bé. Vậy kết nối thế nào? Trong khi đó, sau các chương trình tổng kết chính sách, phải thừa nhận rằng những ưu đãi của chính sách đến với các DN chưa nhiều, chưa đạt yêu cầu.

Bà Phạm Thị Thu Hằng - Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Chúng ta đã có Luật Đầu tư nước ngoài vào năm 1987 nhưng 20 năm sau mới có chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ. Điều này cho thấy, lúc thu hút đầu tư, chúng ta đã không hiểu rằng DN FDI vào đây họ cần gì, chỉ biết họ cần thị trường, lao động giá rẻ, mà không hề biết, các DN FDI họ rất kỳ vọng DN Việt sẽ là đối tác cung ứng nguyên phụ liệu cho họ.

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness