VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Cooperative

Thiếu dữ liệu chung, HTX và doanh nghiệp cùng chịu rủi ro

Thiếu dữ liệu chung, HTX và doanh nghiệp cùng chịu rủi ro

Dữ liệu vùng trồng vẫn phân tán giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và HTX, thiếu cơ chế kết nối và cập nhật thống nhất. Điều này làm gia tăng rủi ro chồng lấn nguồn cung, gây khó cho truy xuất nguồn gốc và ảnh hưởng năng lực xuất khẩu của nông sản Việt.

Một trong những nhận định phổ biến hiện nay là ngành nông nghiệp đang thiếu dữ liệu. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy, vấn đề không hẳn là thiếu mà dữ liệu đang tồn tại dưới dạng phân tán, cục bộ và chưa được kết nối với nhau.

Sự lệch pha giữa số liệu và thực địa

TS Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông (cũ), cho biết hiện nay, doanh nghiệp đang nắm dữ liệu vùng nguyên liệu và các chuỗi liên kết. Nông dân, HTX có dữ liệu về thành viên và diện tích canh tác thực tế. Các dán phát triển lưu giữ nhiều bộ dữ liệu khảo sát. Trong khi đó, chính quyền địa phương quản lý hệ thống số liệu thống kê phục vụ quản lý nhà nước.

Các nguồn này được hình thành cho các mục đích khác nhau, sử dụng nhiều tiêu chuẩn khác nhau và phần lớn chưa được tích hợp thành một hệ thống thống nhất.

Ông Phạm Đình Lai, Chi cục trưởng chi cục Nông nghiệp, Sở NN&MT Điện Biên, cho biết Điện Biên là vùng có diện tích cà phê lớn (9.000 hecta) và người dân, HTX có liên kết bán cà phê cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Nhưng có một điều hiện nay là ngay cả cơ quan quản lý cũng không biết các doanh nghiệp đó thu thập dữ liệu như thế nào.

Dữ liệu vùng trồng cần theo kịp sự thay đổi trong thực tiễn sản xuất.
Dữ liệu vùng trồng cần theo kịp sự thay đổi trong thực tiễn sản xuất.

Diện tích cà phê lớn chưa được khoanh vẽ lô thửa, trong khi thời vụ của cà phê đang đến gần, thời gian thực hiện quy định của EUDR không còn nhiều, đến cuối năm 2026 là phải hoàn thiện. Nhưng đến nay, cả nước vẫn chưa có bộ cơ sở dữ liệu thống nhất, nên các địa phương trên toàn quốc chưa thống nhất được cách làm.

Bên cạnh tính phân tán, một khó khăn khác là dữ liệu nông nghiệp luôn phải theo kịp sự vận động của thực tiễn sản xuất. Cơ cấu cây trồng thay đổi theo tín hiệu thị trường. Chủ sử dụng đất thay đổi theo quá trình chuyển nhượng hoặc liên kết sản xuất.

Các chuỗi cung ứng liên tục được điều chỉnh để thích ứng với nhu cầu của thị trường và yêu cầu của các quốc gia nhập khẩu. Trong khi, nhiều bộ dữ liệu hiện nay vẫn được xây dựng theo từng thời điểm và thiếu cơ chế cập nhật thường xuyên.

Điều này dẫn đến một nghịch lý khá phổ biến là dữ liệu vẫn tồn tại trong hệ thống quản lý nhưng không phản ánh đầy đủ thực tế sản xuất đang diễn ra ngoài thực địa.

 Ông Nguyễn Minh Hiếu, Giám đốc HTX Sầu riêng Gia Bảo (TP Đồng Nai), cho biết, chỉ trong một thời gian ngắn, diện tích sầu riêng tăng nhanh, nhiều vùng chuyên canh mới hình thành, các chuỗi liên kết liên tục được mở rộng hoặc điều chỉnh theo nhu cầu thị trường.

“Những thay đổi này diễn ra nhanh hơn nhiều so với chu kỳ cập nhật của các hệ thống thống kê truyền thống”, Giám đốc HTX Gia Bảo nhận định.

Sự lệch pha giữa số liệu và thực địa không chỉ gây khó cho công tác quản lý mà còn tiềm ẩn những rủi ro pháp lý lớn cho người nông dân khi giá nông sản biến động. Ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc HTX cà phê Bích Thao, cho biết cà phê thời gian gần đây tăng giá thúc đẩy nhiều hộ dân mở rộng diện tích, nhưng nhiều hộ mở rộng tích lại có thể vướng vào đất quy hoạch, đất rừng lại vi phạm quy định của EURD. Từ đây khiến khâu thu thập, xây dựng dữ liệu gặp khó khăn.

Rủi ro gian dối nguồn cung

Từ thực tiễn này đặt ra một yêu cầu quan trọng là cơ sở dữ liệu vùng trồng không thể chỉ được xây dựng một lần rồi duy trì theo cách quản lý hồ sơ hành chính. Thay vào đó, dữ liệu cần phải được cập nhật thường xuyên, để làm sao phản ánh đúng thực trạng sản xuất và trở thành công cụ hỗ trợ các bên ra quyết định một cách phù hợp.

Theo các chuyên gia, giá trị lớn nhất của cơ sở dữ liệu vùng trồng không nằm ở việc có thêm một bộ số liệu mà ở khả năng hỗ trợ ra quyết định.

TS Phạm Tuấn Anh, dẫn chứng rằng nếu có một đơn hàng cần mua ngay 1.000 tấn cà phê đạt chứng nhận 4C, làm sao có thể nhanh chóng xác định được nguồn cung ở đâu, sản lượng bao nhiêu và doanh nghiệp, HTX nào có khả năng đáp ứng.

Hay trong sản xuất nông nghiệp, vào đầu mùa khô, làm sao để biết chính xác diện tích cây trồng cần tưới để điều tiết nguồn nước từ các công trình thuỷ lợi hiện có một cách hiệu quả. Cũng có thể tại một thời điểm bất kỳ, làm sao có thể nắm bắt được ngành nông nghiệp đang thu hoạch sản phẩm gì, ở đâu với sản lượng bao nhiêu.

Trong khi ở các địa phương hiện nay đều thu hút doanh nghiệp nông lâm nghiệp về đầu tư và họ thường có dữ liệu về vùng trồng và thường không chia sẻ với cơ quan quản lý.

Theo TS Tô Xuân Phúc, Chuyên gia tổ chức Forest Trends, việc này tiềm ẩn hai rủi ro lớn. Đầu tiên là doanh nghiệp có vùng nguyên liệu trên cùng một địa bàn (ví dụ trên cùng một xã) có thể bị trùng lặp về diện tích về vùng nguyên liệu của mình. Thực tế đã có lô đất trồng cà phê tại địa bàn thuộc tỉnh Gia Lai (cũ) được 8 công ty khai báo cùng thu mua, một lô đất tại Sơn La có 4 công ty cùng khai báo thu mua sản phẩm.

“Tất nhiên, một hộ có thể bán sản phẩm thu hoạch từ cùng một lô đất của mình cho nhiều doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, nếu mỗi công ty đều khai báo thu mua toàn bộ sản lượng thu hoạch từ lô đất đó thì tổng lượng sản lượng khai báo sẽ vượt xa so với sản lượng thực tế”, TS Tô Xuân Phúc nhấn mạnh.

Điều này cho thấy đã có gian dối trong khai báo nguồn cung nguyên liệu đầu vào của các công ty, từ đó dẫn đến hậu quả là các cơ quan kiểm soát nhập khẩu tại nước nhập khẩu có thể từ chối lô hàng vào thị trường này.

Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp không chia sẻ các dữ liệu  vùng trồng với cơ quan quản lý tiềm ẩn rủi ro thu mua sản phẩm từ các diện tích đất không tuân thủ quy định pháp luật về sử dụng đất.

Rủi ro này tồn tại chủ yếu với ngành hàng cà phê bởi hiện một số doanh nghiệp chưa tiếp cận đầy đủ với thông tin về ranh giới 3 loại rừng- dữ liệu do cơ quan kiểm lâm địa phương quản lý. Rủi ro có thể xảy ra khi một số diện tích vùng trồng của doanh nghiệp thuộc phạm vi liên kết với nông hộ, thành viên HTX bị chồng lấn với diện tích đất lâm nghiệp.

Nếu điều này xảy ra, hoạt động canh tác sẽ vi phạm với quy định về sử dụng đất. Do vậy, sản phẩm thu hoạch từ các diện tích này không tuân thủ quy định của Việt Nam về sử dụng đất hợp pháp.

Do đó, nếu doanh nghiệp công khai dữ liệu một cách chính xác, thì cơ quan quản lý địa phương sẽ có hướng tư vấn cho doanh nghiệp có liên kết với HTX mở rộng diện tích, đối tượng cây trồng phù hợp phục vụ để xuất khẩu, từ đó giúp ngành hàng được minh bạch, bền vững.

Đặc biệt, việc liên kết xây dựng dữ liệu còn mang lại bài toán kinh tế rõ ràng về mặt chi phí. Theo khảo sát, nếu doanh nghiệp tự làm dữ liệu vùng trồng, chi phí sẽ khoảng 30 USD/ha. Nhưng khi doanh nghiệp kết hợp với doanh nghiệp để làm dữ liệu thì sẽ giảm 4-5 USD/ha. Với diện tích 9.000 ha cà phê tại Điện Biên, nếu các doanh nghiệp bắt tay nhau xây dựng và chia sẻ dữ liệu, toàn chuỗi có thể tiết kiệm khoảng 36.000 - 45.000 USD (gần 1 tỷ đồng).

Từ kinh nghiệm thực địa, ông Phạm Đình Lai cho biết tại Điện Biên đang thí điểm làm dữ liệu cho cây cà phê tại hai xã và thấy rằng việc huy động mọi lực lượng rất quan trọng.

Cụ thể là các sở ngành đã phối hợp với lực lượng kiểm lâm rà soát quỹ đất. Khi người dân-HTX phát triển diện tích trồng cà phê, diện tích nào nghi ngờ trên đất rừng thì được khuyến cáo không trồng cà phê trên đất đó. Điều này giúp người trồng cà phê không bị vi phạm vào diện tích quy hoạch.

Mô hình này chứng minh rằng, chỉ khi các bên cùng chia sẻ dữ liệu, người nông dân mới tránh được rủi ro vi phạm quy hoạch, HTX chủ động được kế hoạch sản xuất, còn doanh nghiệp thì tự tin sở hữu "hộ chiếu xanh" để đưa nông sản Việt vươn xa một cách minh bạch và an toàn.

Huyền Trang

VnBusiness