Tại Phú Thọ, sự chuyển biến về tư duy sản xuất trong các HTX đang được thể hiện rất rõ. Toàn tỉnh hiện có 1.148 HTX và 451 tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Phần lớn các HTX đã từng bước đầu tư công nghệ, đổi mới phương thức quản trị, quảng bá sản phẩm trên nền tảng số và mở rộng kênh tiêu thụ thông qua thương mại điện tử. Chuyển đổi số vì thế không còn là câu chuyện riêng của những doanh nghiệp lớn, mà đang trở thành công cụ để khu vực kinh tế tập thể nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.
HTX nông nghiệp ở Phú Thọ
Từ sản xuất hàng hóa
đến tạo dựng giá trị
Câu chuyện của HTX Sản xuất gạo Nếp Gà gáy Mỹ Lung và Kinh doanh dịch vụ tổng hợp, xã Sơn Lương cho thấy sự thay đổi trong tư duy sản xuất. Thay vì chỉ bán nguyên liệu, HTX đầu tư dây chuyền xay xát, đóng gói, hút chân không nhằm kéo dài thời gian bảo quản và bảo đảm chất lượng sản phẩm trong quá trình lưu thông.
Năm 2022, gạo Nếp Gà gáy Mỹ Lung được nâng hạng OCOP 4 sao, đồng thời HTX đạt chứng nhận ISO 22000:2018 về an toàn thực phẩm. Đây không đơn thuần là những “tấm giấy chứng nhận”, mà là cơ sở để HTX chuẩn hóa quy trình, củng cố niềm tin của thị trường và từng bước chuyển sang sản xuất theo hướng hữu cơ.
Đáng chú ý, công nghệ được HTX sử dụng không chỉ nằm trên dây chuyền sản xuất. Sản phẩm được đưa lên các nền tảng như giaothuong.net, nongsanphutho.com.vn, Facebook, Zalo..., qua đó mở rộng phương thức tiếp cận khách hàng.
Theo Giám đốc HTX Khúc Ngọc Tung, nhờ chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ, sản lượng và thị trường tiêu thụ đã tăng gấp đôi, trong khi giá thành sản phẩm tăng gần 20%. Từ thị trường trong tỉnh, gạo Nếp Gà gáy Mỹ Lung đã tiếp cận người tiêu dùng tại miền Nam.
Nếp Gà gáy Mỹ Lung
Điều đáng nói ở đây là giá trị gia tăng không đến từ một yếu tố đơn lẻ. Công nghệ giúp nâng chất lượng; tiêu chuẩn giúp tạo niềm tin; OCOP góp phần định vị sản phẩm; thương mại điện tử mở rộng thị trường. Khi các yếu tố này được kết nối, nông sản mới có cơ hội bước ra khỏi “cổng làng” với một giá trị hoàn toàn khác.
Tương tự, tại xã Đà Bắc, HTX Nông nghiệp dịch vụ và cung ứng thực phẩm Đà Bắc đang ứng dụng công nghệ số vào sản xuất rau, dưa lưới, rau gia vị theo tiêu chuẩn VietGAP. Trên diện tích 1,5ha gồm 15 nhà màng, nhà lưới, hệ thống quan trắc tự động thu thập dữ liệu nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và các yếu tố khí hậu ngay tại ruộng.
Từ dữ liệu đó, nhiều khâu sản xuất được tự động hóa, nước và dinh dưỡng được cung cấp đúng thời điểm, đúng liều lượng, góp phần hạn chế sâu bệnh, tiết kiệm chi phí và nâng hiệu quả. Mỗi năm, HTX cung ứng khoảng 300 tấn thực phẩm cho các bếp ăn tập thể, doanh thu gần 5 tỷ đồng.
Dữ liệu biến thành sức mạnh tại HTX Đà Bắc
Hệ thống Quan Trắc Khí Hậu:
Những HTX thành công trong thực tế cho thấy chuyển đổi số trong nông nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu bằng những công nghệ quá phức tạp. Giá trị lớn nhất nằm ở việc biến dữ liệu thành quyết định sản xuất chính xác hơn, biến quy trình thành chất lượng ổn định hơn và biến sản phẩm thành một thương hiệu có khả năng cạnh tranh.
Liên kết để không
“đơn độc” trên thị trường
Một trong những điểm yếu cố hữu của sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ là quy mô manh mún, sản lượng không ổn định và khó đáp ứng yêu cầu của những thị trường lớn. HTX có thể giải quyết một phần bài toán này bằng cách tổ chức lại sản xuất, liên kết các hộ dân và liên kết chính các HTX với nhau.
HTX Nông nghiệp Trường Thịnh, phường Phong Châu (Phú Thọ) là một ví dụ. Sau hơn 15 năm hoạt động, HTX có 60 thành viên, tổ chức sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP trên khoảng 40ha.
Không chỉ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình, HTX còn liên kết với HTX Rau an toàn Đỗ Xuyên, HTX Rau an toàn Tứ Xã và HTX Rau an toàn Tu Vũ để đa dạng nguồn hàng, chủ động sản lượng và mở rộng tiêu thụ.
Một HTX, nhiều mắt xích liên kết
Trường Thịnh
Cách làm thông minh của HTX tạo ra một thay đổi quan trọng, ở đó liên kết giúp các đơn vị bổ trợ cho nhau về vùng nguyên liệu, sản lượng, thị trường và kinh nghiệm quản trị. Đồng thời, HTX có điều kiện xây dựng tiêu chuẩn chung, kiểm soát đầu vào và đồng nhất chất lượng sản phẩm.
Ở HTX Trường Thịnh, việc liên kết với các hộ dân cũng được đặt trong một quy trình tương đối chặt chẽ. Người dân được hướng dẫn chăm sóc, thu hái theo tiêu chuẩn của HTX, vùng nguyên liệu được kiểm soát từ đầu vào.
Không chỉ là hiện tượng đơn lẻ, toàn tỉnh Phú Thọ hiện đã hình thành 207 chuỗi cung ứng thực phẩm nông, lâm, thủy sản an toàn. Trong đó có 65 doanh nghiệp, 122 HTX, tổ hợp tác và 20 hộ kinh doanh cá thể tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi với doanh nghiệp. Nhiều sản phẩm đã có mặt tại các hệ thống bán lẻ hiện đại như GO!, Co.opmart, WinMart.
207 Chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn tại Phú Thọ
Khi doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu đặt hàng, tiêu chuẩn hóa nguyên liệu, kiểm soát chất lượng đến phân phối, HTX có cơ sở xây dựng kế hoạch sản xuất ổn định hơn, giảm rủi ro đầu ra và nâng cao khả năng thương lượng.
Mở rộng “hệ sinh thái”
đổi mới sáng tạo
Trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại, thương hiệu không còn là phần trang trí bên ngoài sản phẩm. Đó là một dạng tài sản có khả năng tạo giá trị kinh tế lâu dài.
Với HTX, việc xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu, phát triển chỉ dẫn địa lý, chuẩn hóa sản phẩm OCOP, truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng cần được nhìn nhận như một chiến lược đầu tư.
Khi một sản phẩm được nhận diện rõ ràng, có thông tin minh bạch và có cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, giá trị của sản phẩm không còn chỉ được tính bằng kilogram nông sản, mà còn được tính bằng uy tín, sự khác biệt và niềm tin của người tiêu dùng.
Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc đang trở thành một phần không thể thiếu trong chuỗi giá trị. Một mã QR có thể giúp người tiêu dùng biết sản phẩm đến từ đâu, được sản xuất như thế nào, qua những công đoạn nào. Với HTX, dữ liệu truy xuất còn là công cụ để kiểm soát vùng nguyên liệu, phát hiện sai lệch và nâng cao trách nhiệm của từng thành viên.
Hệ sinh thái tạo giá trị bền vững cho HTX
Để HTX thực sự làm chủ công nghệ và tài sản trí tuệ, liên kết trong thời gian tới cần được mở rộng từ quan hệ HTX – nông dân – doanh nghiệp sang một hệ sinh thái có sự tham gia sâu hơn của viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức khoa học công nghệ.
Doanh nghiệp có thể đóng vai trò dẫn dắt thị trường, cung cấp yêu cầu về tiêu chuẩn và đầu ra; HTX tổ chức vùng nguyên liệu và sản xuất; viện nghiên cứu, trường đại học hỗ trợ giống, quy trình kỹ thuật, công nghệ chế biến, bảo quản và hoàn thiện sản phẩm.
Cùng với đó, các đơn vị chuyên môn có thể hỗ trợ HTX xác lập, bảo hộ và khai thác nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì, sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc các tài sản trí tuệ phù hợp.
Quan trọng hơn, kết quả nghiên cứu cần được thương mại hóa. Một quy trình công nghệ nếu chỉ nằm trong phòng thí nghiệm sẽ khó tạo ra giá trị xã hội; một tài sản trí tuệ nếu không được đưa vào sản xuất, thị trường cũng chưa thể trở thành sức mạnh kinh tế. HTX chính là một địa chỉ quan trọng để đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp.
Từ nghiên cứu giống cây trồng, công nghệ chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch đến nền tảng quản trị số, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử, các mô hình hợp tác giữa HTX với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cần được thúc đẩy theo hướng cùng đầu tư, cùng nghiên cứu, cùng sở hữu hoặc khai thác hợp lý kết quả và cùng chia sẻ lợi ích từ thương mại hóa.
Trong giai đoạn mới, chính sách hỗ trợ vì thế cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đầu vào đơn thuần sang hỗ trợ năng lực tổ chức chuỗi, tín dụng cho đổi mới công nghệ, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ, chuyển đổi số, nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm. Đặc biệt, cần đơn giản hóa thủ tục tiếp cận vốn, tăng ưu đãi cho các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị.