VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Địa phương

Nông sản Hà Nội tìm lời giải cho bài toán tăng giá trị và đầu ra

Nông sản Hà Nội tìm lời giải cho bài toán tăng giá trị và đầu ra

Từ cải thiện lợi nhuận, kiểm soát chi phí đến giảm rủi ro dịch bệnh, các mô hình sản xuất an toàn tại Hà Nội đang ghi nhận những kết quả tích cực. Tuy nhiên, để hiệu quả không chỉ dừng ở giai đoạn được hỗ trợ, bài toán đặt ra là duy trì chất lượng, mở rộng liên kết tiêu thụ và bảo đảm thu nhập lâu dài cho người sản xuất.

Cùng một loại cây trồng, nhưng thay đổi quy trình sản xuất có thể tạo ra chênh lệch đáng kể về hiệu quả kinh tế. Tại xã Yên Bài, Hà Nội, mô hình trồng chè theo tiêu chuẩn VietGAP ghi nhận lợi nhuận 219,545 triệu đồng/ha/năm, cao hơn 75,577 triệu đồng so với diện tích ngoài mô hình, tương ứng mức tăng 52,5%.

Sản xuất an toàn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt

Không chỉ cải thiện chất lượng chè, mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP tại Hà Nội đang cho thấy sự khác biệt về lợi nhuận so với phương thức canh tác ngoài mô hình.

Ở xã Suối Hai, lợi nhuận đạt 178,281 triệu đồng/ha/năm, trong khi diện tích ngoài mô hình chỉ đạt 107,240 triệu đồng.

Đây là kết quả bước đầu của mô hình sản xuất chè VietGAP do Trung tâm Khuyến nông Hà Nội triển khai trong năm 2026, với tổng diện tích 20 ha tại Yên Bài và Suối Hai, mỗi xã 10 ha, thu hút 72 hộ tham gia.

Theo thông tin từ Trung tâm Khuyến nông Hà Nội, năng suất chè búp tươi tại các điểm triển khai đạt khoảng 9–10 tấn/ha/năm. Tỷ lệ chè loại 1 vượt 70%, giúp giá bán chè khô cao hơn khoảng 30.000–40.000 đồng/kg so với sản phẩm đối chứng ngoài mô hình.

Để đạt kết quả này, người trồng chè được hướng dẫn kiểm soát vật tư đầu vào, bón phân cân đối, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), ghi chép nhật ký sản xuất và thực hiện đúng quy trình thu hái, sơ chế.

Bà Nguyễn Thị Thiết, thành viên HTX Yên Bài, thu hái chè tại vùng nguyên liệu của HTX.
Bà Nguyễn Thị Thiết, thành viên HTX Yên Bài, thu hái chè tại vùng nguyên liệu của HTX.

Chương trình hỗ trợ 70% chi phí vật tư, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sinh học theo định mức được phê duyệt; người dân đối ứng 30%. Các hộ còn được hỗ trợ toàn bộ chi phí chứng nhận VietGAP và tham gia tập huấn kỹ thuật.

Việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh, quản lý thuốc bảo vệ thực vật và chăm sóc cây trồng theo quy trình cũng góp phần hạn chế nguy cơ ô nhiễm đất, nước tại vùng sản xuất.

Tuy nhiên, mức lợi nhuận ghi nhận tại mô hình cần được nhìn nhận trong điều kiện có hỗ trợ về vật tư và chứng nhận. Khi mở rộng diện tích, khả năng duy trì hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào chi phí sản xuất thực tế, chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ.

Không riêng cây chè, mô hình chăn nuôi gia cầm thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ tại xã Trần Phú cũng cho thấy hiệu quả bước đầu từ việc tổ chức sản xuất theo quy trình kỹ thuật.

Sau hơn 4 tháng triển khai tại 14 hộ, với tổng quy mô 33.000 con, mô hình ghi nhận tỷ lệ sống của đàn gà trên 95%, không xảy ra dịch bệnh lớn trong suốt chu kỳ nuôi.

Trọng lượng gà thương phẩm tại thời điểm nghiệm thu đạt trung bình 1,8–2 kg/con, với mức tiêu tốn thức ăn khoảng 6 kg/con.

Các hộ tham gia được hỗ trợ 50% chi phí giống, thức ăn và vật tư kỹ thuật liên quan. Cán bộ khuyến nông đồng thời hướng dẫn quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng dịch theo hướng an toàn sinh học.

Theo đánh giá của các hộ chăn nuôi, việc tuân thủ quy trình giúp kiểm soát quá trình nuôi, hạn chế nguy cơ dịch bệnh và giảm chi phí đầu vào.

Dù vậy, tài liệu nghiệm thu chưa cung cấp số liệu cụ thể về doanh thu và lợi nhuận của từng hộ. Vì thế, kết quả hiện có chủ yếu phản ánh hiệu quả kỹ thuật và khả năng kiểm soát rủi ro, chưa đủ để xác định mức cải thiện thu nhập.

Bên cạnh hỗ trợ sản xuất, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội còn triển khai hoạt động kết nối tiêu thụ, hướng tới đầu ra ổn định hơn cho các hộ tham gia.

Đầu ra quyết định khả năng duy trì hiệu quả

Sản phẩm đạt chất lượng tốt hơn, tỷ lệ hao hụt giảm và năng suất được cải thiện là những kết quả quan trọng. Nhưng với người sản xuất, hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng bán hàng và phần thu nhập giữ lại sau khi trừ chi phí.

Đây là vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn Khuyến nông @ với chủ đề “Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”, do Trung tâm Khuyến nông Hà Nội phối hợp với UBND xã Mê Linh tổ chức.

Các ý kiến trao đổi tập trung vào cách tìm kiếm thị trường, tổ chức sản xuất, lựa chọn vật tư đầu vào, ứng dụng kỹ thuật và đáp ứng yêu cầu của các đơn vị thu mua, phân phối.

Đối với hợp tác xã, cơ sở sản xuất và hộ nông dân, việc hình thành liên kết với doanh nghiệp và hệ thống phân phối có thể giúp tiếp cận khách hàng tốt hơn, đồng thời giảm rủi ro khi sản phẩm làm ra nhưng khó tiêu thụ.

Mô hình chăn nuôi gia cầm thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ tại xã Trần Phú.
Mô hình chăn nuôi gia cầm thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ tại xã Trần Phú.

Tuy nhiên, để duy trì liên kết, người sản xuất phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, quy trình kỹ thuật và thương hiệu. Đây là những điều kiện cần thiết để sản phẩm có thể tham gia các kênh phân phối ổn định.

Nhìn từ hai mô hình tại Yên Bài, Suối Hai và Trần Phú, hỗ trợ kỹ thuật đã tạo ra những chuyển biến cụ thể trong sản xuất. Với cây chè, hiệu quả được thể hiện qua lợi nhuận và giá bán. Với chăn nuôi gia cầm, kết quả nổi bật là tỷ lệ sống của đàn vật nuôi và khả năng kiểm soát dịch bệnh.

Dù vậy, những kết quả này chưa đồng nghĩa với việc đầu ra đã được bảo đảm lâu dài. Khả năng duy trì liên kết tiêu thụ và hiệu quả kinh tế sau giai đoạn hỗ trợ vẫn cần tiếp tục được theo dõi.

Thời gian tới, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội dự kiến phối hợp với các địa phương mở rộng sản xuất chè VietGAP, hữu cơ; hỗ trợ xây dựng thương hiệu, kết nối tiêu thụ và phát triển du lịch trải nghiệm gắn với vùng chè.

Từ thực tế các mô hình, việc nâng giá trị nông sản cần được thực hiện đồng thời ở cả khâu sản xuất và thị trường. Chất lượng tốt hơn có thể giúp sản phẩm bán được giá cao hơn, nhưng chỉ khi kiểm soát được chi phí và duy trì đầu ra, người nông dân mới có cơ sở giữ vững lợi nhuận trong dài hạn.

Ngọc Bích

VnBusiness