Lệnh cấm từ Philippines, rủi ro với xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi Việt Nam
Philippines vừa thông báo tới Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về lệnh cấm tạm thời nhập khẩu một số động vật và sản phẩm động vật có nguy cơ cao mắc bệnh lở mồm long móng từ Việt Nam. Đáng chú ý, biện pháp này đã có hiệu lực từ ngày 19/9/2026, trước thời điểm thông báo tới WTO 18 ngày.
Theo Văn phòng SPS Việt Nam, trong 58 thông báo về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) của các thành viên WTO từ ngày 1–15/10/2026, thông báo G/SPS/N/PHL/545 của Philippines là văn bản duy nhất nêu đích danh Việt Nam.
Philippines cấm nhập một số sản phẩm chăn nuôi Việt Nam
Philippines áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm cấm nhập khẩu động vật, sản phẩm và phụ phẩm có nguy cơ cao mắc bệnh lở mồm long móng từ một số quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Danh mục cấm gồm thịt cơ, ruột, mỡ, móng, sừng động vật; lợn, bò, hươu, nai sống và tinh dịch của các loài này.
Đáng chú ý, lệnh cấm có hiệu lực từ ngày 19/9 nhưng đến ngày 7/10 mới được thông báo tới WTO. Theo Hiệp định SPS, đây là trình tự được phép đối với biện pháp khẩn cấp. Tuy nhiên, khoảng chênh lệch 18 ngày có thể khiến doanh nghiệp gặp rủi ro với những hợp đồng đã ký hoặc lô hàng đang vận chuyển.
Theo quy định của Philippines, hàng hóa thuộc diện cấm sẽ bị đình chỉ nhập khẩu và tịch thu tại cửa khẩu.
Lệnh cấm được đưa ra trong bối cảnh xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi Việt Nam đang tăng trưởng mạnh. 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 564 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ, cao nhất trong các nhóm hàng nông, lâm, thủy sản.
Dù mang tính tạm thời và chỉ áp dụng với một số mặt hàng, quy định mới đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu sang Philippines khẩn trương rà soát hợp đồng, điều kiện kiểm dịch và kế hoạch giao hàng để hạn chế thiệt hại.
Lệnh cấm của Philippines không áp dụng với tất cả sản phẩm chăn nuôi. Một số mặt hàng vẫn được phép nhập khẩu nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện kiểm dịch thú y.
Cụ thể, danh mục ngoại lệ gồm sữa và sản phẩm sữa được xử lý ở nhiệt độ siêu cao (UHT); sản phẩm thịt xử lý nhiệt trong bao bì kín, đạt giá trị F₀ từ 3 phút trở lên; bột protein; gelatin; da xử lý bằng vôi; da ngâm axit và da thuộc bán thành phẩm.
Trong số các điều kiện trên, chỉ số F₀ là yêu cầu kỹ thuật doanh nghiệp cần chú ý. Đây là thước đo hiệu quả tiệt trùng, được quy đổi về thời gian xử lý tương đương ở nhiệt độ 121°C nhằm tiêu diệt vi sinh vật trong thực phẩm.
Với yêu cầu F₀ từ 3 phút trở lên, doanh nghiệp phải có hồ sơ kỹ thuật chứng minh quy trình xử lý nhiệt đạt chuẩn, thay vì chỉ xác nhận sản phẩm đã qua chế biến.
Như vậy, thị trường Philippines vẫn mở cửa đối với một số sản phẩm chăn nuôi đã qua chế biến, xử lý phù hợp và có hồ sơ kỹ thuật đầy đủ.
Đối với doanh nghiệp đang xuất khẩu động vật sống, sản phẩm tươi hoặc sơ chế thuộc danh mục bị cấm, việc cần làm là sớm trao đổi với đối tác nhập khẩu để rà soát hợp đồng, lịch giao hàng và các điều kiện kiểm dịch, tránh phát sinh thiệt hại khi hàng đã tới cửa khẩu.
Canada, Ai Cập và nhiều thị trường đồng loạt điều chỉnh quy định
Không chỉ Philippines, nhiều thị trường nhập khẩu khác cũng đang đưa ra những yêu cầu mới đối với nông sản, thực phẩm. Trong số 58 thông báo SPS được tổng hợp, có một số dự thảo và quy định đáng chú ý đối với các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Với ngành rau quả, nhóm hàng đạt kim ngạch 7,345 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 19,9% so với cùng kỳ, hai dự thảo của Canada là những nội dung cần theo dõi.
Theo thông báo G/SPS/N/CAN/1650, Canada đề xuất mức giới hạn dư lượng tối đa (MRL) đối với hoạt chất Cyprodinil là 4,0 ppm trên quả na và 2,0 ppm đối với nhóm trái cây nhiệt đới, cận nhiệt đới có quả nhỏ, vỏ không ăn được.
Trong khi đó, thông báo G/SPS/N/CAN/1649 đề xuất mức dư lượng Fludioxonil là 20 ppm đối với quả na và nhóm trái cây nói trên, cùng mức 4,0 ppm đối với chuối.
Nhóm trái cây mang mã 24A trong phân loại của Canada bao gồm nhiều sản phẩm Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu như vải, nhãn, chôm chôm và chanh leo. Thời hạn góp ý đối với cả hai dự thảo là trước ngày 13/12/2026.
Ở lĩnh vực thủy sản, nhóm hàng đạt 9,172 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm, tăng 12,3%, thị trường Ai Cập cũng đang có nhiều thay đổi về tiêu chuẩn.
Nước này xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn ES 3495, quy định yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và phương pháp thử nghiệm đối với cá đông lạnh nhanh dạng thanh, miếng và phi lê tẩm bột hoặc phủ bột nhào. Dự thảo được xây dựng trên cơ sở Tiêu chuẩn Codex CXS 166-1989.
Bên cạnh đó, theo Nghị định số 209/2026, Ai Cập dành thời gian chuyển tiếp 6 tháng để các nhà sản xuất và nhập khẩu đáp ứng Tiêu chuẩn ES 804 về cá ngừ, cá ngừ vằn đóng hộp, tương đương Codex CXS 70-1981, và Tiêu chuẩn ES 1725 về cá muối. Thời hạn góp ý đối với các thông báo này là trước ngày 6/12/2026.
Tại thị trường Campuchia, quy định mới về kiểm soát và kiểm tra chất lượng, an toàn đối với cá và sản phẩm thủy sản đã được ban hành, gồm 5 chương và áp dụng cho cả hoạt động xuất nhập khẩu.
Các yêu cầu tập trung vào vệ sinh, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng thuốc thú y, hóa chất, chất gây ô nhiễm và áp dụng hệ thống phân tích mối nguy, kiểm soát điểm tới hạn (HACCP). Campuchia cũng đã ban hành Luật Thủy sản mới.
Đối với hàng thực vật, Thổ Nhĩ Kỳ ban hành quy trình hun trùng và khử trùng đối với thực vật, sản phẩm thực vật nhập khẩu, có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
Theo quy định, hàng nhập khẩu phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật phù hợp với tiêu chuẩn ISPM 12. Toàn bộ biện pháp xử lý tại nước xuất khẩu phải được ghi đầy đủ vào mục “Xử lý khử trùng và/hoặc khử khuẩn” trên giấy chứng nhận, kể cả trường hợp việc hun trùng không do phía Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu.
Riêng với quy định về hương liệu thực phẩm, các cơ sở kinh doanh phải hoàn thành việc tuân thủ chậm nhất vào ngày 31/12/2026.
Trước những thay đổi liên tục về quy định nhập khẩu, Văn phòng SPS Việt Nam đề nghị các cơ quan, hiệp hội và doanh nghiệp chủ động nghiên cứu, gửi ý kiến góp ý bằng tiếng Việt và tiếng Anh, chậm nhất 3 ngày trước thời hạn của từng thông báo.
Theo đó, hạn gửi ý kiến về hai dự thảo của Canada là ngày 10/12/2026, còn các thông báo của Ai Cập là ngày 3/12/2026.
Áp lực đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng lớn. Từ đầu năm đến ngày 15/9/2026, các thành viên WTO đã ban hành 822 thông báo SPS, gồm 509 dự thảo và 313 quy định có hiệu lực, đến từ 166 thành viên. Riêng nửa đầu tháng 10, Văn phòng SPS Việt Nam tiếp tục tổng hợp thêm 58 thông báo.
TS. Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, nhấn mạnh: “Đây là thông tin mà các doanh nghiệp cần phải lưu ý”.
Theo ông, doanh nghiệp và hợp tác xã cần chủ động đưa yêu cầu của thị trường vào quản trị chuỗi sản xuất, kinh doanh. Việc ứng dụng công nghệ phải gắn với kiểm soát an toàn thực phẩm, minh bạch thông tin và chứng minh khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn nhập khẩu.
Nội dung chi tiết các thông báo được đăng tải trên cổng thông tin của Văn phòng SPS Việt Nam tại địa chỉ www.spsvietnam.gov.vn.
Thành An

Kinh tế tuần hoàn tại HTX: Nâng tầm thương hiệu và giảm nghèo bền vững
Ninh Bình: Canh tác lúa tiết kiệm 9,3 triệu đồng/ha, bài toán nhân rộng đặt lên vai HTX
Mở rộng diện tích lúa phát thải thấp tại ĐBSCL: Từ bền vững đến thực chất chuỗi giá trị
Hẹn gặp tại TP.HCM: Hội chợ kết nối giao thương sản phẩm HTX từ ngày 23/10

Đối thoại với thanh niên năm 2026: Chính phủ sẵn sàng đồng hành
Doanh nông thực chiến: Đưa sản vật bản địa vào chuỗi giá trị
Sự trỗi dậy của thế lực mới trong ngành AI
Vì sao startup Việt dễ “đứt gánh giữa đường”?
Bức tranh thị trường tài chính 9 tháng: Tín dụng vượt 20 triệu tỷ, huy động vốn cổ phiếu tăng hơn 62%
Trong 9 tháng năm 2026, thị trường tài chính ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý ở các lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và ngân hàng.
Đừng bỏ lỡ
Từ búp chè Shan tuyết đến sản phẩm giá trị cao
Từ những cây chè Shan tuyết cổ thụ vùng Tây Côn Lĩnh, HTX Chế biến chè Phìn Hồ (Tuyên Quang) đã từng bước nâng cao giá trị đặc sản địa phương thông qua đầu tư công nghệ, chuẩn hóa sản xuất và xây dựng thương hiệu. Với sản phẩm OCOP 5 sao và thị...


































