VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Cooperative

Mở rộng diện tích lúa phát thải thấp tại ĐBSCL: Từ bền vững đến thực chất chuỗi giá trị

Mở rộng diện tích lúa phát thải thấp tại ĐBSCL: Từ bền vững đến thực chất chuỗi giá trị

Mở rộng diện tích lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là bài toán chuyển đổi thực chất về hạ tầng, cơ chế chính sách và chuỗi liên kết thị trường.

Để Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, giảm phát thải đi vào chiều sâu, việc gỡ bỏ các "nghẽn mạch" phát sinh từ thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cho cả quản lý nhà nước lẫn năng lực của các hợp tác xã (HTX).

Thực tế cho thấy, canh tác giảm phát thải không còn là thử nghiệm mà đã trở thành xu hướng bắt buộc. Tuy nhiên, từ thực tiễn sản xuất đến thương mại hóa hạt gạo xanh vẫn tồn tại những nghẽn mạch cốt lõi, đòi hỏi tư duy quản trị mới và giải pháp hạ tầng đồng bộ.

Nghẽn mạch hạ tầng và bài toán hiệu quả liên kết

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp mang lại lợi ích không nhỏ cho người dân, HTX tại ĐBSCL, đồng thời giúp cải thiện môi trường. Dù vậy, tiến trình mở rộng diện tích đang vướng phải không ít rào cản từ cơ sở hạ tầng, chi phí đầu tư đến tính cam kết trong chuỗi liên kết.

Tại Hội nghị Ngày Lương thực Thế giới và Tăng cường hợp tác triển khai Chương trình lúa chất lượng cao, phát thải thấp Việt Nam, đại diện một HTX ở Vĩnh Long chia sẻ, dù sản phẩm gạo hữu cơ trồng theo quy trình phát thải thấp của HTX đã bán được với giá 70.000 đồng/kg, nhưng mức giá này thực chất vẫn chưa quá cao so với chi phí đầu tư. Bên cạnh đó, đơn vị đang đối mặt với khó khăn lớn về nguồn tài chính để nâng cấp cơ sở vật chất hạ tầng. Thực tế hiện nay, HTX vẫn chưa đủ điều kiện kinh tế để tự mua sắm các trang thiết bị hiện đại như máy bay không người lái (UAV) hay máy móc cơ giới hóa đồng bộ.

Ngoài ra, dù khâu sản xuất lúa hữu cơ đã bước đầu có doanh nghiệp thu mua, song các sản phẩm kết hợp trong mô hình lúa - tôm (như tôm, cua) vẫn chưa tìm được doanh nghiệp liên kết bao tiêu, bà con buộc phải bán nhỏ lẻ ngoài thị trường tự do với giá trị thấp. HTX bày tỏ mong muốn các doanh nghiệp lớn tham gia đồng hành, hỗ trợ toàn diện cả đầu vào lẫn đầu ra: từ việc cung ứng vật tư (giống, phân bón), hỗ trợ thương mại hóa các dòng phân bón do chính HTX tự sản xuất, cho đến việc bao tiêu ổn định toàn bộ sản phẩm nông - thủy sản được sản xuất theo quy trình giảm phát thải.

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho người dân, HTX.
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho người dân, HTX.

Theo khảo sát từ Dự án "Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại ĐBSCL" (TRVC), trong số 10 doanh nghiệp tham gia dự án, chỉ có vỏn vẹn 1 doanh nghiệp bán được sản phẩm lúa gạo với giá cao hơn so với mặt bằng thị trường. Việc thị trường chấp nhận chi trả mức giá chênh lệch cao cho sản phẩm "gạo xanh" vẫn còn hạn chế, khiến động lực liên kết tiêu thụ của doanh nghiệp chưa thực sự bứt phá.

Đại diện địa phương trọng điểm về sản xuất lúa gạo, ông Nguyễn Phước Thiện – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết, một điểm nghẽn lớn hiện nay trong quá trình triển khai đề án là tính chuyển giao công nghệ và cơ giới hóa tại các HTX. Thời gian qua, nhiều HTX đề xuất mua sắm máy móc nhưng chưa đạt hiệu quả kinh tế, thậm chí gây lãng phí lớn. Điều này không phải do HTX không dùng hoặc vận hành máy móc không hiệu quả, mà bởi đặc thù sản xuất nông nghiệp mang tính vụ mùa: những cỗ máy trị giá 5–6 tỷ đồng chỉ vận hành vài ngày cao điểm rồi bỏ trống trong kho suốt thời gian còn lại. Do đó, phải có kế hoạch hỗ trợ HTX đầu tư và sử dụng máy móc, công nghệ một cách hiệu quả hơn.

Dưới góc độ chuyên gia, PGS.TS Bùi Bá Bổng chỉ ra rằng hạ tầng kỹ thuật giảm phát thải của Việt Nam không hề mới. Kỹ thuật tưới khô xen kẽ (Nông – Lộ – Phơi) từ những năm 1960 đã giúp giảm tới 50% lượng phát thải, sau đó được phát triển thành các gói kỹ thuật "3 giảm 3 tăng", "1 phải 5 giảm" và nhãn hiệu gạo phát thải thấp do Cục Sở hữu trí tuệ công nhận. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh quốc tế đang đè nặng. Trong 3 năm qua, nhiều quốc gia xuất khẩu gạo đã bứt phá rất nhanh; đơn cử như Ấn Độ đã bán 200.000 tấn gạo được Tổ chức Verra chứng nhận tín chỉ giảm phát thải.

 "Nếu không có giải pháp phù hợp để tiếp tục thúc đẩy, Việt Nam dù đi trước nhưng hoàn toàn có nguy cơ thụt lùi và đi sau các nước", PGS.TS Bùi Bá Bổng cảnh báo.

Không để nông dân, HTX  đơn độc gánh vác mọi rủi ro

Để giải quyết những rào cản trên và đưa ĐBSCL trở thành trung tâm lúa gạo xanh của thế giới, việc chuyển đổi không thể dừng lại ở những nỗ lực tự phát đơn lẻ mà đòi hỏi một chiến lược tổng thể: tinh gọn quản trị, chuẩn hóa kỹ thuật và kiến tạo động lực kinh tế cho cả nông dân lẫn doanh nghiệp.

Trong đó, việc tập trung nguồn lực và hoàn thiện cơ chế tài chính cho HTX là hết sức cần thiết. Bởi một trong những bất cập lớn nhất hiện nay là sự phân tán của các dự án hỗ trợ. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải tích hợp tất cả các dự án và nguồn lực quốc tế về một đầu mối duy nhất nhằm tránh trùng lắp, lựa chọn đúng hạng mục ưu tiên. Đồng thời, các thủ tục hành chính đăng ký rườm rà trước đây sẽ được cắt giảm tối đa khi mở rộng vùng trồng lúa phát thải thấp ra toàn ĐBSCL.

Bên cạnh nguồn lực nhà nước, việc tháo gỡ điểm nghẽn vốn đòi hỏi sự chủ động từ chính cơ chế địa phương. Ông Nguyễn Phước Thiện gợi ý các địa phương có thể tận dụng nguồn lực sẵn có như nguồn vốn thủy lợi phí để hỗ trợ kinh phí sản xuất cho HTX. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ trực tiếp khoảng 3 triệu đồng/ha cho vùng trồng lúa phát thải thấp (tương đương 300 triệu đồng/năm cho một HTX quy mô 100ha) như kiến nghị của PGS.TS Bùi Bá Bổng sẽ là "vốn mồi" quan trọng để HTX chủ động tu bổ nội đồng, áp dụng quy trình chuẩn mà không phải hoàn toàn thụ động chờ đợi sự xuất hiện của doanh nghiệp.

Cùng với đó, đổi mới mô hình dịch vụ công nghiệp và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ là rất cần thiết. Bài toán lãng phí máy móc hàng tỷ đồng do tính chất vụ mùa đòi hỏi tư duy quản lý cơ giới hóa hoàn toàn mới. Từ kinh nghiệm thành công của Trung Quốc trong việc thành lập các Trung tâm nông công nghiệp cung cấp dịch vụ công cho HTX thuê, tỉnh Đồng Tháp đang chủ động xây dựng trung tâm kỹ thuật nông nghiệp cấp tỉnh. Trung tâm này sẽ đảm nhận việc lấy mẫu đất, phân tích mẫu nước chuyên sâu để đưa kỹ thuật chuẩn vào sản xuất, hỗ trợ HTX cải tạo đất và quản lý môi trường ruộng đồng đạt hiệu quả cao nhất.

Không dừng lại ở cơ giới hóa thô, ngành lúa gạo bắt buộc phải chuyển dịch sang tự động hóa và ứng dụng công nghệ số. Việc ứng dụng phần mềm đánh giá hiệu quả sản xuất tối ưu cùng các công nghệ như máy cuộn rơm, thiết bị bay không người lái (UAV)... là điều kiện bắt buộc để xử lý phụ phẩm rơm rạ theo đúng quy trình giảm phát thải. Nhằm tạo hành lang pháp lý cho bước tiến này, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính đề xuất xem xét ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về lúa gạo phát thải thấp. Đây sẽ là nền tảng cốt lõi để chuẩn hóa quy trình chứng nhận, xây dựng chỉ dẫn địa lý và bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm gạo xanh Việt Nam.

Muốn nâng hiệu quả, mở rộng diện tích lúa phát thải thấp, việc tạo động lực liên kết thị trường và quản trị rủi ro cho người nông dân/ HTX được các chuyên gia lưu tâm. Đặc biệt, chuỗi giá trị lúa gạo phát thải thấp chỉ có thể vận hành bền vững khi doanh nghiệp thấy được lợi ích kinh tế rõ ràng. Nhà nước cần thiết kế chính sách hỗ trợ, thưởng tài chính cho doanh nghiệp tham gia liên kết dựa trên lượng carbon giảm thiểu được, tạo động lực kéo các doanh nghiệp nòng cốt lôi kéo toàn bộ thị trường.

Khẳng định khoa học công nghệ đóng góp khoảng 30-40% hiệu quả toàn ngành, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh: Đề án 1 triệu ha lúa phải tạo ra sự chuyển đổi thực chất, xây dựng được thương hiệu gạo xanh phát thải thấp.

"Trong mọi hoạt động, phải luôn đặt người nông dân và HTX ở vị trí trung tâm, doanh nghiệp là động lực, khoa học công nghệ là nền tảng. Nông dân hay HTX không thể đơn độc gánh vác mọi rủi ro; Nhà nước phải đồng hành, quản trị rủi ro để không đẩy khó khăn về phía người dân/HTX, đồng thời hỗ trợ các HTX nâng tầm phát triển thành chuỗi giá trị bền vững", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nêu rõ.

Huyền Trang

Video Gom giá trị bản địa, dệt sinh kế vùng cao

Từ những loại cây, lá quen thuộc ở Lạng Sơn, HTX Chế biến nông sản Lụa Vy do chị Vi Thị Lụa làm Giám đốc đã phát triển các sản phẩm trà thảo dược, tạo việc làm cho lao động nữ và mở rộng đầu ra nông sản, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân địa...

VnBusiness