VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Đâu là rào cản lớn nhất trong liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam?

Đâu là rào cản lớn nhất trong liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam?

Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Bùi Thu Thuỷ chỉ ra nguyên nhân khiến cho khối FDI và doanh nghiệp trong nước còn khoảng cách lớn, mối liên kết còn rời rạc.

Phó Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài Bùi Thu Thuỷ.
Phó Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài Bùi Thu Thuỷ.

Tại Tọa đàm "Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao" do Cục thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức chiều 7/8, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) thẳng thắn chỉ rõ: trong 40 năm qua, dòng vốn FDI đã mang lại nhiều kết quả cho nền kinh tế Việt Nam, nhưng thực lực nội lực của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn một khoảng cách rất lớn với khối FDI.

Từ Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, và trong suốt quá trình quản lý FDI, Việt Nam đã rất mong muốn thu hẹp khoảng cách này. Tuy nhiên, đây là một câu chuyện rất khó, không chỉ với Việt Nam.

"Khi nghiên cứu, chúng tôi thấy nhiều quốc gia cũng gặp khó khăn tương tự khi FDI vào phát triển rất tốt nhưng vẫn tồn tại câu chuyện 'hai nền kinh tế'", bà Thuỷ cho biết.

Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng, nguyên nhân của tình trạng này đến từ cả hai phía. Ở góc độ doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc, khi đầu tư sang Việt Nam thường mang theo hệ sinh thái và các nhà cung cấp.  Họ không thay đổi và sử dụng các doanh nghiệp phụ trợ trong nước để cắt giảm chi phí.

"Khi đã thành thói quen, có mối quan hệ mật thiết và đã đánh giá nhau kỹ lưỡng, họ rất ngại thay đổi đối tác. Đây là một khó khăn cho doanh nghiệp trong nước", bà Thuỷ phân tích. 

Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước chủ yếu quy mô nhỏ và vừa, năng lực từ vốn đến quản trị và công nghệ cũng rất hạn chế. Số lượng doanh nghiệp sẵn sàng tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI cũng không lớn. Đây là nguyên nhân làm hạn chế khả năng hấp thụ dòng vốn .

"Tôi có thời gian dài quản lý công tác phát triển doanh nghiệp trong nước và thừa nhận đến nay, doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI", bà Thuỷ thẳng thắn.

Cũng theo đại diện Cục Đầu tư nước ngoài, dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn trước có hàm lượng công nghệ không cao, số lượng dự án gia công lắp ráp tương đối lớn. Trong giai đoạn 10 - 20 năm gần đây, dòng vốn mới bắt đầu có sự chuyển bước với hàm lượng công nghệ cao hơn. Tuy nhiên, sự chuyển giao công nghệ vẫn chủ yếu ở nội bộ doanh nghiệp (từ doanh nghiệp mẹ cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam), rất khó để chuyển giao ra bên ngoài. Dù Việt Nam đã có chính sách ưu đãi nhưng chưa đủ để các doanh nghiệp FDI cảm thấy mặn mà nhận.

"Quyết định 29/NQ-TW về ưu đãi đầu tư đặc biệt với mức ưu đãi rất hấp dẫn, mức cao nhất 5% trong 37 năm đối với các dự án công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực trong nước hoặc chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay mới có một dự án áp dụng quyết định này", bà Thuỷ dẫn chứng.

Về phía doanh nghiệp trong nước, bà Thuỷ cũng cho rằng hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ trong nước còn những hạn chế dù đã có nhiều cơ chế chính sách.

"Chính vì vậy, trong Nghị quyết 10/NQ-TW này, với định hướng của Bộ Chính trị, giải pháp sắp tới của chúng ta phải rất vượt trội và khác biệt mới mong thay đổi được những thực tế trong thời gian qua", bà Thủy nói.

Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đề ra nhiệm vụ khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số để được hưởng các ưu đãi đầu tư theo kết quả thực hiện; công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quản trị và lộ trình nội địa hóa.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45 - 50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.

Đỗ Kiều

Video Đưa thổ cẩm Mường Hoa lên "xa lộ số"

Từ những khung cửi truyền thống của đồng bào Mông ở thung lũng Mường Hoa (Lào Cai), các sản phẩm thổ cẩm đã vươn lên các sàn thương mại điện tử, mở ra hướng phát triển mới cho nghề truyền thống nhờ ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

VnBusiness