Tránh vết xe đổ sa mạc hóa: Cần sửa văn bản pháp luật nào để cứu đất?
Đất nông - lâm nghiệp Việt Nam đang đối mặt với tình trạng suy thoái. Sự kiệt quệ của tài nguyên đất không chỉ đến từ thiên tai hay biến đổi khí hậu, mà nguy hiểm hơn, nó bắt nguồn từ tư duy canh tác "bóc tách" ngắn hạn và sự buông lỏng quản lý kỹ thuật trong các chính sách hiện hành.
Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 11,8 triệu ha đất bị thoái hóa, chiếm tới 35,7% tổng diện tích đất tự nhiên cả nước.
Khoảng trống quản lý kỹ thuật đất cho thuê
Đáng báo động hơn, trong cấu trúc diện tích bị suy thoái, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 43% và đất lâm nghiệp chiếm 42%. Báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ ra rằng, cả nước hiện có khoảng 1,2 triệu ha đất đã lâm vào tình trạng suy thoái nặng, tập trung chủ yếu ở các khu vực có cường độ canh tác nông nghiệp cao như Tây Nguyên, Tây Bắc, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Điều này đã chứng minh một thực trạng, ngay cả những vùng thủ phủ cây trồng truyền thống cũng đang đối mặt với sự suy thoái của đất.
Dẫn chứng điều này tại Tọa đàm “Đi tìm quyền cho đất” tổ chức chiều 21/8, TS Trương Tất Đơ, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cho biết tại vùng trồng quế Văn Yên - Lào Cai, dù diện tích gieo trồng vẫn được duy trì, thương hiệu quế Văn Yên vẫn có tên trên bản đồ xuất khẩu, nhưng người nông dân đang phải đối mặt với một thực tế là đất dần cạn kiệt dinh dưỡng, cây quế canh tác theo phương thức cũ không còn cho chất lượng và năng suất như mong muốn.
Sự lệch pha giữa khuyến cáo khoa học và thực tiễn canh tác còn thể hiện rõ hơn. Cụ thể là các công trình nghiên cứu bài bản đã chỉ ra rằng, đối với cây keo, mật độ trồng tối ưu chỉ nên dao động từ 1.300 - 1.600 cây/ha. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít hộ dân đã nén mật độ trồng lên tới 10.000 cây/ha. Hậu quả là tầng đất mặt bị xói mòn rửa trôi toàn bộ. Đất gần như xơ cứng sau vài chu kỳ thu hoạch.
TS Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Tổ chức Forest Trends lại cho rằng, ở các khu vực sản xuất nông nghiệp thương mại quy mô lớn, tiêu biểu như vùng Tây Nguyên, xu hướng các doanh nghiệp, cá nhân thuê đất diện tích lớn để canh tác đang bùng nổ mạnh mẽ.
Về mặt tích cực, tích tụ đất đai giúp hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đưa cơ giới hóa và công nghệ vào đồng ruộng. Nhưng ở chiều ngược lại, người đi thuê đất mang tư duy của nhà đầu tư tài chính: họ vắt kiệt sức lực của đất trong thời hạn hợp đồng (thường từ 3 đến 5 năm) để thu về lợi nhuận tối đa. Để đạt năng suất cực đại, họ sẵn sàng đổ xuống đồng ruộng lượng lớn phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật và kích thích tăng trưởng. Khi hợp đồng thuê đất kết thúc, người thuê rời đi cùng lợi nhuận, trả lại cho chủ đất diện tích đất bạc màu, kiệt quệ vi sinh vật.
Đáng chú ý, nguyên nhân của tình trạng này không hoàn toàn do người thuê đất, mà đến từ lỗ hổng lớn trong cơ chế quản lý của nhà nước. Phân tích về thực trạng này, TS Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở NN&PTNT Đăk Nông (cũ) chỉ ra rằng, đối với các diện tích đất nông nghiệp cho thuê quy mô lớn, Nhà nước hiện mới chỉ quản lý về mặt thủ tục hành chính như quy hoạch, thời hạn cho thuê, ranh giới pháp lý và thu tiền thuê đất. Còn việc người thuê đất sử dụng công nghệ kỹ thuật canh tác ra sao, tàn phá hay bồi bổ chất đất như thế nào thì hầu như bị bỏ ngỏ.
Chất lượng và "sức khỏe" của đất sau chu kỳ thuê hiện nay hoàn toàn không có chế tài kỹ thuật định lượng để kiểm soát, mà hoàn toàn trông chờ vào "đạo đức và trách nhiệm" của người thuê đất. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, việc giao phó tài nguyên quốc gia cho "đạo đức" thương mại là một sự mạo hiểm đầy rủi ro.
"Những gì không được quy định cụ thể, chặt chẽ bằng văn bản quy phạm pháp luật thì không thể cứu vãn được tình trạng suy thoái đất hiện nay. Nếu không có khung pháp lý ràng buộc, mọi thông điệp về phát triển bền vững cũng chỉ dừng lại trên giấy”, TS Phạm Tuấn Anh cho biết.
Cần sửa văn bản nào?
Thực trạng suy thoái đất và sa mạc hóa đang đặt ra yêu cầu cấp bách về việc đổi mới thể chế. Đúng như quan điểm của nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan trong một hội thảo nông nghiệp gần đây khi cho rằng: "Nếu thay đổi tư duy từ 'quản lý đất' sang 'quản trị sức khỏe đất', góc nhìn chính sách và sức sống của đồng ruộng sẽ hoàn toàn khác".
Bởi "quản lý" mang nặng tính hành chính, quản lý diện tích, ranh giới và mục đích sử dụng. Còn "quản trị sức khỏe đất" là tiếp cận đất đai như một hệ sinh thái sống, cần được theo dõi, bảo vệ, nuôi dưỡng và định giá tài sản dựa trên chất lượng phì nhiêu.
Để hiện thực hóa chuyển biến từ tư duy sang hành động, tránh "vết xe đổ" sa mạc hóa, các chuyên gia cho rằng hệ thống pháp luật liên quan đến đất nông nghiệp cần được rà soát và sửa đổi gắn liền liền với các văn bản quy phạm cụ thể.
Trong đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn về cho thuê đất nông nghiệp một cách cụ thể. Bởi dù Luật Đất đai đã có những quy định chung về nghĩa vụ bảo vệ đất của người sử dụng, nhưng vẫn thiếu các công cụ định lượng. Việc bổ sung quy định bắt buộc về "Chỉ số sức khỏe đất" vào hồ sơ giao đất, cho thuê đất nông nghiệp tập trung là điều cấp thiết.
Khi đó, trước khi giao đất và sau khi kết thúc hợp đồng thuê, cơ quan quản lý nhà nước phải tổ chức kiểm định các chỉ tiêu sinh - hóa học của đất như hàm lượng hữu cơ, độ pH, mật độ vi sinh vật hay mức độ tồn dư hóa chất. Đồng thời, cần đưa điều khoản "Ký quỹ hoàn phục môi trường đất" vào hợp đồng cho thuê đất thương mại. Nếu người thuê làm suy giảm nghiêm trọng chỉ số sức khỏe đất so với ban đầu, tiền ký quỹ sẽ bị khấu trừ để cải tạo đất, thậm chí phải bồi thường thiệt hại kinh tế.
Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực lâm nghiệp và nông nghiệp cần cụ thể hóa các chế tài xử phạt đối với hành vi canh tác tàn phá đất. TS Trương Tất Đơ cho rằng, đơn cử như trong lâm nghiệp, cần có quy định khống chế mật độ gieo trồng keo tối đa, xử phạt hành chính đối với các trường hợp cố tình trồng dày quá quy chuẩn làm suy thoái đất dốc. Đồng thời, chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi hay giảm thuế nông nghiệp cần được thiết kế lại để chỉ áp dụng cho các HTX, doanh nghiệp, nông dân triển khai quy trình canh tác tái sinh, canh tác thông minh có chứng nhận bảo vệ và nâng cao chất lượng đất.
Tài nguyên đất đai là hữu hạn và không thể tái tạo trong một vài thế hệ. Chỉ khi những tiêu chuẩn về "sức khỏe của đất" được luật hóa rõ ràng trong từng văn bản pháp lý, buộc người sử dụng đất phải có trách nhiệm bồi hoàn, Việt Nam mới có thể bảo vệ được tài nguyên đất, tạo nền tảng vững chắc cho một nền nông nghiệp xanh, bền vững và tự chủ trong tương lai.
Tùng Lâm

Nestlé Việt Nam tăng cường năng lực sản xuất cà phê chất lượng cao xuất khẩu
Giảm 30% thuế: “Phao cứu sinh” cho doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh
Nửa thế kỷ phụng sự khát vọng Việt, Vinamilk đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất
Nghỉ lễ Quốc khánh 5 ngày liên tiếp: Người dùng cần lưu ý gì để giao dịch ngân hàng không bị gián đoạn?

Hộ kinh doanh trước “bài toán” chi phí tuân thủ: Cần một lộ trình chuyển đổi đủ dài
Một công ty tài chính bị phạt 1,59 tỷ đồng, đứng trước bài toán tăng vốn, xử lý lỗ lũy kế
Giảm 500 đồng/kg, giá cà phê vẫn có nhiều kỳ vọng tăng
Trung Quốc miễn thị thực quá cảnh trong 10 ngày cho công dân Việt Nam
Chi tiết quy hoạch Khu liên hợp thể thao quốc tế Hùng Vương
Tập đoàn Vingroup vừa công bố quy hoạch Khu liên hợp thể thao quốc tế Hùng Vương tại Khu đô thị Thể thao Quốc tế Hà Nội.
Đừng bỏ lỡ
Từ ao đất đến những vụ tôm công nghệ cao
Mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất, HTX Chợ Bến (xã Long Điền, Tp. HCM) đã đưa công nghệ cao vào nuôi tôm thẻ chân trắng. Mô hình mới giúp kiểm soát tốt môi trường, hạn chế dịch bệnh, rút ngắn thời gian nuôi và nâng sản lượng lên hơn 100 tấn mỗi...


































