VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Doanh nghiệp

Lần đầu tiên quy định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng

Lần đầu tiên quy định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư 31/2026/TT-BNNMT, lần đầu quy định cụ thể phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Thông tư 31/2026/TT-BNNMT quy định cụ thể về phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng… Trong đó, điều quan trọng là 1 tín chỉ carbon rừng không được định giá bằng một mức chung cho mọi khu rừng. Giá phải phản ánh chi phí tạo ra tín chỉ, chất lượng dự án, khả năng duy trì lượng carbon và tình hình giao dịch trên thị trường.

Từ ngày 15/7, mức chi trả carbon rừng được xác định theo chi phí tạo tín chỉ và giá các dự án tương đồng, thay vì phụ thuộc vào thương lượng giữa bên mua bán.
Từ ngày 15/7, mức chi trả carbon rừng được xác định theo chi phí tạo tín chỉ và giá các dự án tương đồng, thay vì phụ thuộc vào thương lượng giữa bên mua bán.

Cụ thể, Thông tư nêu rõ 2 phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng gồm phương pháp chi phí và phương pháp so sánh. 

Đối với phương pháp chi phí, mức chi trả cho kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon rừng của dự án carbon rừng được xác định trên cơ sở tổng chi phí xây dựng dự án carbon rừng, chi phí hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, chi phí hỗ trợ sinh kế, cùng các khoản thuế, phí, lệ phí (nếu có) theo quy định, tính cho lượng tín chỉ carbon rừng được cung ứng. Tổng chi phí này được chia cho lượng tín chỉ carbon dự kiến cung ứng để xác định mức giá bình quân của mỗi tín chỉ carbon.

Chi phí xây dựng dự án carbon rừng, gồm: chi phí xây dựng, đăng ký dự án; đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải khí nhà kính; cấp tín chỉ carbon rừng; chi phí liên quan đến trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng của dự án carbon rừng cần xác định mức chi trả (nếu có).

Chi phí này được xác định dựa trên thu thập, tổng hợp thông tin về chi phí thực tế xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ của kỳ báo cáo đã hoàn thành; ước tính chi phí đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ của các kỳ tiếp theo và chi phí liên quan đến trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng của dự án carbon rừng cần xác định mức chi trả; xác định tổng chi phí xây dựng dự án carbon rừng.

Với phương pháp so sánh, dự án phải lựa chọn ít nhất 3 dự án carbon rừng khác làm tham chiếu, với điều kiện đã có giao dịch trong nước hoặc quốc tế tại thời điểm xác định mức chi trả hoặc thời điểm gần nhất trong thời hạn 24 tháng.

Cũng theo quy định, chi phí hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và hỗ trợ phát triển sinh kế được xác định tối đa bằng 15% kinh phí bảo vệ rừng được Nhà nước cấp trong thời gian thực hiện dự án carbon rừng.

Trường hợp giá tín chỉ carbon tính bằng ngoại tệ thì quy đổi thành đồng Việt Nam theo tỷ giá trung tâm (đối với USD) hoặc tỷ giá tính thuế do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xác định mức chi trả.

Thông tư 31 cũng đặt ra yêu cầu cập nhật giá. Nếu dự án không phát sinh giao dịch trong 12 tháng liên tục, mức chi trả phải được điều chỉnh theo giá bình quân của 3 dự án đã giao dịch gần nhất. Trường hợp không tìm đủ 3 dự án tham chiếu đáp ứng yêu cầu, giá được xác định theo phương pháp chi phí.

Các yêu cầu kỹ thuật này giúp doanh nghiệp, người dân tham gia dự án carbon rừng có một quy trình rõ ràng hơn khi xây dựng phương án tài chính, góp phần giảm chênh lệch thông tin trong đàm phán với đối tác quốc tế.

Tại hội nghị phổ biến Nghị định 180/2026/NĐ-CP hồi đầu tháng 7, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cho rằng nghị định đã tạo hành lang pháp lý cho thị trường các-bon rừng tại Việt Nam.

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được thí điểm từ năm 2008, thể chế hóa bằng nghị định năm 2010 và đưa vào Luật Lâm nghiệp năm 2017. Bước tiến rõ nét nhất là chương trình giảm phát thải tại Bắc Trung Bộ. Năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chuyển nhượng cho Ngân hàng Thế giới 11,3 triệu tấn CO₂, gồm 10,3 triệu tấn theo thỏa thuận ERPA và 1 triệu tấn bổ sung, thu về 56,5 triệu USD, tương đương khoảng 1.388 tỷ đồng.

Nguồn tiền được chi trả cho khoảng 80.000 chủ rừng, trong đó có khoảng 40.000 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng tại Bắc Trung Bộ. Theo ông Lượng, kết quả này tạo động lực để các địa phương, chủ rừng tham gia thị trường, huy động thêm nguồn lực bảo vệ, phát triển rừng và cải thiện sinh kế cho cộng đồng sống dựa vào rừng.

Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, Nghị định quy định về đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng; dự án carbon rừng, xác định kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon rừng được cung ứng.

Hồng Hương

VnBusiness