VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tài chính

Gần 400.000 tỷ đồng "đổ" ra nền kinh tế: Tín dụng bứt tốc, ngân hàng căng mình giải bài toán thanh khoản

Gần 400.000 tỷ đồng "đổ" ra nền kinh tế: Tín dụng bứt tốc, ngân hàng căng mình giải bài toán thanh khoản

Bước vào quý II/2026, bức tranh ngành ngân hàng đang ghi nhận một sự "lệch pha" đáng chú ý khi dòng vốn tín dụng ồ ạt chảy ra nền kinh tế với tốc độ nhanh kỷ lục, trong khi huy động vốn từ dân cư và tổ chức lại tăng trưởng "nhỏ giọt".

Sự chênh lệch này không chỉ đẩy thanh khoản hệ thống vào trạng thái "căng như dây đàn" mà còn kích hoạt một cuộc đua lãi suất mới, đồng thời đặt ra những thách thức chưa từng có cho cả nhà điều hành lẫn doanh nghiệp.

Tín dụng bứt tốc tạo áp lực đè nặng lên ngân hàng

Theo số liệu mới nhất từ Cục Thống kê, tính đến ngày 24/3/2026, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,15%, dù thấp hơn mức 2,28% của cùng kỳ năm 2025 về mặt tỷ lệ, song xét trên quy mô tuyệt đối thì vẫn là một con số rất lớn. Với dư nợ tín dụng cuối năm 2025 đạt hơn 18,4 triệu tỷ đồng, ước tính đã có khoảng 399.000 tỷ đồng được bơm ròng vào nền kinh tế chỉ trong 3 tháng đầu năm.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng vỏn vẹn 0,44%, thấp hơn rất nhiều so với con số 1,23% của cùng kỳ năm ngoái. Khoảng cách nới rộng giữa tốc độ cho vay và huy động đã tạo ra một áp lực thanh khoản rõ rệt lên toàn hệ thống ngay từ đầu năm.

Tính đến ngày 24/3/2026, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt mức 2,15%.
Tính đến ngày 24/3/2026, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt mức 2,15%.

Bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu, Công ty Chứng khoán MB (MBS) phân tích, khoảng chênh lớn buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất đầu vào để thu hút dòng tiền. Bên cạnh đó, tiền gửi ngắn hạn vẫn chiếm tới 80% tổng huy động, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho hạ tầng ngày càng lớn đã khiến áp lực thanh khoản tập trung sâu vào cấu trúc vốn.

Để giữ chân khách hàng và củng cố nguồn vốn, chỉ tính từ đầu tháng 3/2026 đến nay, đã có khoảng 20 ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động, trong đó có những đơn vị thực hiện tăng tới 4 lần.

Hiện nay, mặt bằng lãi suất đã thiết lập một khung giá mới với những con số đầy áp lực. Cụ thể, lãi suất huy động cao nhất tại PVCombank đã chạm ngưỡng 10%/năm, tiếp sau là VikkiBank ở mức 9,2%/năm và GPBank là 9%/năm. Nhóm ngân hàng tư nhân lớn như NCB, VPBank hay MSB cũng đẩy lãi suất lên mức 8,9 - 8,95%/năm. Ngay cả nhóm Big 4 (Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank) - vốn luôn dồi dào thanh khoản, cũng không thể đứng ngoài cuộc đua này, thể hiện qua việc tăng lãi suất lên tới 6,8% - 7%/năm cho các kỳ hạn dài nhằm cạnh tranh nguồn vốn.

Sự đảo chiều này đã tác động mạnh đến thị trường liên ngân hàng. Bà Trần Thị Khánh Hiền (MBS) thông tin thêm rằng trong tháng 3, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phải thực hiện hút ròng khoảng 114.600 tỷ đồng qua kênh OMO để điều tiết, là mức cao nhất kể từ cuối năm 2024 và cho thấy trạng thái thanh khoản không còn dư dả như trước.

Doanh nghiệp bắt đầu ngấm đòn lãi vay

Khi giá vốn đầu vào tăng cao, lãi suất cho vay khó có thể đứng yên và điều này đang trở thành nỗi lo lớn nhất của các doanh nghiệp đang trên đà phục hồi sản xuất kinh doanh.

Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Bất động sản Toàn Cầu, đã bày tỏ sự lo ngại sâu sắc khi cho biết trước đây, doanh nghiệp vay với lãi suất 7% - 7,5%/năm, nhưng từ đầu quý II/2026 đã bị đẩy lên 11% - 12%/năm. Thậm chí, lãi suất cho vay cá nhân mua nhà đã chạm ngưỡng 14% - 15%/năm. Theo ông Hiệp, mức lãi này khiến chi phí vốn trở thành bất khả thi đối với cả chủ đầu tư lẫn người mua nhà ở thực, đồng thời khẳng định nếu không có giải pháp hạ nhiệt thì mục tiêu tăng trưởng vĩ mô sẽ gặp lực cản vô cùng lớn.

Ngoài ra, áp lực từ tỷ giá khi USD trên thị trường tự do vượt 28.000 đồng/USD vì căng thẳng địa chính trị thế giới cũng là nguyên nhân buộc NHNN phải duy trì lãi suất VND ở mức đủ hấp dẫn để giữ chân dòng vốn ngoại và ổn định đồng nội tệ.

Về dòng chảy vốn, năm 2026 ghi nhận sự dịch chuyển mạnh mẽ khi mà VPBank, Techcombank và VIB tập trung vào mảng bán lẻ và tiêu dùng để tận dụng hạn mức, còn các "ông lớn" quốc doanh như Vietcombank hay BIDV lại dồn lực cho các siêu dự án hạ tầng trọng điểm như sân bay Long Thành và cao tốc Bắc - Nam.

Để hạ nhiệt lãi suất mà vẫn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, các chuyên gia cho rằng ngành ngân hàng cần những thay đổi quyết liệt từ nội tại.

Ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch Hội đồng quản trị MB, đã chỉ ra 3 trọng tâm chính để tối ưu chi phí bao gồm việc tiết giảm chi phí quản lý (CIR) vốn đang ở mức cao để giảm áp lực lên lãi suất cho vay. Trọng tâm thứ hai là đẩy mạnh huy động vốn giá rẻ (CASA) nhằm giảm chi phí vốn đầu vào. Cuối cùng là tập trung quản trị rủi ro nợ xấu vì chi phí này hiện chiếm tới 18% - 20% cơ cấu chi phí ngành, nếu quản trị tốt sẽ mở ra không gian để kéo lãi suất cho vay xuống.

Đồng quan điểm, TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), đã nhấn mạnh việc cần giảm sự phụ thuộc quá lớn vào vốn vay ngân hàng, đồng thời khẳng định cần chuyển dịch dòng vốn và từng bước phát triển mạnh hơn các kênh trái phiếu cũng như cổ phiếu để chia sẻ gánh nặng cho hệ thống tín dụng.

Dưới góc nhìn điều hành, GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, đưa ra những nhận định tổng quan khi cho rằng chính sách tiền tệ quý I/2026 được điều hành theo nguyên tắc thận trọng nhưng không thụ động. Theo GS. Đạt, Việt Nam đang duy trì trạng thái cân bằng động, không nới lỏng quá sớm để tránh lạm phát nhưng cũng không siết quá mức làm gián đoạn đà phục hồi, đây vốn là nghệ thuật điều hành đòi hỏi sự tinh tế trong bối cảnh thế giới đầy biến động.

Huyền Anh

VnBusiness