Longform
E-MAGAZINE • VNBUSINESS

HTX liên kết,
tạo sinh kế bền vững

Tạp chí Kinh Doanh
9/2026
HTX

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương, nhất là khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hợp tác xã (HTX) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong tổ chức lại sản xuất.

Không chỉ tập hợp những hộ sản xuất nhỏ lẻ, HTX đang trở thành cầu nối giữa người dân với doanh nghiệp, thị trường, khoa học công nghệ và chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Thông qua liên kết sản xuất, hình thành chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học kỹ thuật và mở rộng thị trường, HTX góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, tạo việc làm, tăng thu nhập và quan trọng hơn là kiến tạo sinh kế bền vững cho thành viên cũng như những người dân liên kết.

01 / E-Magazine / VNBUSINESS

Có HTX,
nông dân không đơn độc

Thực tế tại các xã Chiềng Sơn, Chiềng La của tỉnh Sơn La cho thấy rõ nét vai trò ngày càng nổi bật của khu vực kinh tế tập thể. Không chỉ tạo ra lợi nhuận vượt trội, các HTX còn thể hiện ở sự thay đổi tư duy sản xuất, khả năng tiếp cận kỹ thuật mới và cơ hội cải thiện cuộc sống của từng hộ dân.

Tại xã biên giới Chiềng Sơn, kinh tế tập thể đang từng bước trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Xã hiện có 6 HTX hoạt động hiệu quả với 78 thành viên, tạo việc làm thường xuyên cho 68 lao động. Doanh thu bình quân đạt 1,3 tỷ đồng/HTX/năm, trong khi thu nhập bình quân của người lao động đạt 80 triệu đồng/người/năm.

Các HTX trên địa bàn hoạt động trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, thương mại, dịch vụ, trong đó nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn.

Điều đáng ghi nhận là nhiều HTX đã chủ động đổi mới phương thức sản xuất, mở rộng quy mô và tăng cường liên kết, từng bước thích ứng với những yêu cầu ngày càng cao của cơ chế thị trường. Từ chỗ người dân quen với phương thức sản xuất manh mún, dựa nhiều vào kinh nghiệm, HTX đã giúp hình thành tư duy sản xuất có kế hoạch, chú trọng tiêu chuẩn chất lượng và hướng đến nhu cầu của thị trường.

HTX Nông nghiệp Hoàng Sơn là một ví dụ tiêu biểu cho hiệu quả của liên kết sản xuất. Với 24 thành viên và 75 ha chuyên canh các loại cây ăn quả như hồng giòn, xoài, nhãn, bơ, mận hậu, cam, bưởi, HTX đã định hướng các hộ thành viên sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhờ đó, nhiều hộ đạt thu nhập từ 200 triệu đồng đến trên 500 triệu đồng/ha/năm.

Theo ông Đỗ Hữu Mạnh, Giám đốc HTX Nông nghiệp Hoàng Sơn, yếu tố quan trọng không chỉ nằm ở việc mở rộng diện tích sản xuất mà là thay đổi cách thức tổ chức và nâng cao ý thức tuân thủ quy trình của các thành viên.

“HTX yêu cầu các thành viên tuân thủ nghiêm quy trình sản xuất, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học. Khi sản phẩm bảo đảm chất lượng và an toàn thì khách hàng sẽ tin tưởng, lựa chọn. HTX chính là cầu nối để các hộ dân cùng thực hiện những yêu cầu mà nếu làm riêng lẻ sẽ rất khó đạt được”, ông Đỗ Hữu Mạnh chia sẻ.

Bức tranh KTTT xã Chiềng Sơn & mô hình HTX Hoàng Sơn

Dữ liệu thực tế tại Chiềng Sơn, Sơn La
0 HTX
Hoạt động hiệu quả tại xã biên giới Chiềng Sơn
0 thành viên
Tham gia liên kết sản xuất trong các hợp tác xã
0 lao động
Được tạo việc làm thường xuyên trên địa bàn
0 tỷ đồng
Doanh thu bình quân của mỗi HTX/năm
0 triệu đồng
Thu nhập bình quân của mỗi người lao động/năm

Điểm sáng HTX Nông nghiệp Hoàng Sơn TIÊU CHUẨN VIETGAP

Quy mô tập hợp 24 thành viên cùng diện tích 75 ha chuyên canh các loại cây ăn quả chất lượng cao:

Hồng giòn Xoài Nhãn Mận hậu Cam Bưởi

Nguyên tắc cốt lõi: Hạn chế thuốc bảo vệ thực vật hóa học, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình an toàn để nâng cao uy tín thị trường.

Hiệu quả thu nhập thành viên
200 - 500+
triệu đồng / ha / năm
Nhờ chuyển đổi phương thức sản xuất sang quy trình chuẩn VietGAP
02 / E-Magazine / VNBUSINESS

Thúc đẩy chế biến,
mở rộng thị trường

Từ câu chuyện của HTX Hoàng Sơn có thể thấy, trong điều kiện sản xuất nông nghiệp ngày càng cạnh tranh, một hộ nông dân dù có kinh nghiệm cũng khó tự mình giải quyết đồng thời các bài toán về kỹ thuật, giống, vật tư, tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu và thị trường.

HTX không thay thế vai trò của hộ sản xuất mà giúp tổ chức, điều phối và nâng cao năng lực của từng thành viên. Người dân vẫn là chủ thể trực tiếp làm ra sản phẩm, nhưng không còn đứng một mình trước những biến động của thị trường.

Một trong những “nút thắt” lớn của sản xuất nông nghiệp là tình trạng phụ thuộc vào tiêu thụ sản phẩm tươi. Khi sản lượng tăng mạnh vào mùa thu hoạch nhưng thiếu năng lực chế biến và bảo quản, người nông dân thường phải đối mặt với áp lực đầu ra.

Vì vậy, để nâng cao giá trị sản phẩm và giảm rủi ro, HTX không thể chỉ dừng lại ở khâu tổ chức sản xuất mà cần tham gia sâu hơn vào chế biến, bảo quản và phát triển thị trường.

Dây chuyền ứng dụng máy móc chế biến hoa quả công nghệ cao
Dây chuyền máy móc hiện đại và công nghệ sấy tiên tiến giúp HTX tháo gỡ điểm nghẽn tiêu thụ nông sản tươi trong mùa cao điểm.

HTX Nông nghiệp và Dịch vụ hoa quả sấy Cường Hoa đang cho thấy hiệu quả của hướng đi này. Mỗi năm, HTX thu mua khoảng 200 tấn mận, xoài của người dân trong vùng để chế biến thành các sản phẩm sấy dẻo. Hoạt động chế biến không chỉ giúp nâng cao giá trị nông sản mà còn góp phần giải quyết đầu ra cho một lượng lớn hoa quả tươi trong mùa thu hoạch.

Mới đây, HTX được hỗ trợ triển khai Đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào sản xuất, chế biến hoa quả năm 2026”, với tổng kinh phí trên 617 triệu đồng. Nguồn lực này được sử dụng để đầu tư hệ thống máy sấy lạnh có công suất 3.000 kg nguyên liệu/ngày, giúp HTX từng bước hoàn thiện dây chuyền sản xuất.

Chị Hoàng Thị Hoa, Giám đốc HTX Nông nghiệp và Dịch vụ hoa quả sấy Cường Hoa, cho rằng đầu tư công nghệ là yêu cầu tất yếu nếu HTX muốn phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh.

“Việc đưa thiết bị mới vào sản xuất giúp HTX nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường. Quan trọng hơn, chúng tôi giảm được áp lực tiêu thụ hoa quả tươi, góp phần ổn định đầu ra và tạo sinh kế bền vững hơn cho các hộ trồng cây ăn quả”, chị Hoàng Thị Hoa chia sẻ.

Thực tế này cho thấy ứng dụng khoa học kỹ thuật không còn là câu chuyện riêng của các doanh nghiệp lớn. Khi được tiếp cận chính sách, nguồn vốn và thiết bị phù hợp, HTX có thể trở thành đầu mối đưa công nghệ đến gần hơn với nông dân.

Chuỗi giá trị và đột phá nhờ chế biến sâu

Dữ liệu đầu tư và hiệu quả chế biến sâu tại HTX Nông nghiệp & Dịch vụ hoa quả sấy Cường Hoa

Đề án Hỗ trợ ứng dụng thiết bị 2026
Sản Lượng
Thu Mua Hằng Năm
0 Tấn
Thu mua khoảng 200 tấn mận và xoài mỗi năm từ người dân trong vùng để chế biến thành sản phẩm sấy dẻo.
Tổng Kinh Phí
Đề Án 2026
> 617 triệu
Nguồn vốn hỗ trợ máy móc, thiết bị tiên tiến vào sản xuất, chế biến hoa quả nhằm nâng cao sức cạnh tranh.
Công Suất
Hệ Thống Sấy Lạnh
0 Kg/ngày
Hệ thống máy sấy lạnh hiện đại xử lý 3.000 kg nguyên liệu mỗi ngày, hoàn thiện dây chuyền sản xuất khép kín.

Quy Trình Chuỗi Giá Trị Khép Kín:

1
Thu mua liên kết
Bao tiêu 200 tấn mận, xoài tươi từ người nông dân trong vùng khi vào vụ thu hoạch rộ.
2
Sơ chế & Kiểm soát
Phân loại, làm sạch và cắt lát theo quy chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
3
Sấy lạnh công nghệ
Hệ thống máy sấy lạnh 3.000 kg/ngày giữ trọn vẹn màu sắc, dưỡng chất và hương vị đặc trưng.
4
Sản phẩm giá trị cao
Đóng gói hoa quả sấy dẻo chất lượng, mở rộng thị trường, giảm áp lực giải cứu nông sản tươi.
Nút thắt: Phụ thuộc tiêu thụ tươi
  • Áp lực đầu ra: Sản lượng tăng mạnh vào mùa thu hoạch ngắn hạn.
  • Rủi ro thị trường: Dễ bị ép giá khi rộ vụ, khó bảo quản dài ngày.
  • Hộ dân đơn độc: Thiếu trang thiết bị máy móc tiên tiến để tự chế biến.
Giải pháp: HTX chế biến sâu
  • Chủ động thu mua: Hóa giải áp lực tiêu thụ quả tươi cho toàn vùng.
  • Nâng cao giá trị: Nâng công suất sấy 3.000 kg/ngày, tăng sức cạnh tranh.
  • Sinh kế lâu dài: Ổn định đầu ra và thu nhập cho các hộ trồng cây ăn quả.
03 / E-Magazine / VNBUSINESS

Hóa giải
các điểm nghẽn

Dù đã có những chuyển biến tích cực, khu vực kinh tế tập thể vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn. Một số HTX có quy mô nhỏ, vốn điều lệ thấp, thiếu trang thiết bị và nguồn lực đầu tư. Năng lực quản trị của đội ngũ cán bộ HTX ở một số nơi còn hạn chế, trong khi việc tiếp cận chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa thực sự thuận lợi.

Một vấn đề khác là liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa phải lúc nào cũng chặt chẽ. Không ít HTX mới dừng ở khâu tổ chức sản xuất, chưa đủ năng lực đầu tư chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Khi đầu ra thiếu ổn định, người dân vẫn có nguy cơ quay trở lại phương thức sản xuất nhỏ lẻ, làm giảm hiệu quả của quá trình liên kết.

Bởi vậy, để HTX thực sự trở thành động lực phát triển, cần có cách tiếp cận dài hạn và đồng bộ hơn. Hỗ trợ vốn là cần thiết nhưng chưa đủ. Quan trọng hơn là nâng cao năng lực nội tại của HTX, từ quản trị, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh đến khả năng tiếp cận thị trường và tổ chức chuỗi giá trị.

Tại Chiềng Sơn, địa phương xác định đẩy mạnh liên kết giữa người dân, HTX và doanh nghiệp; xây dựng vùng nguyên liệu ổn định; phát triển các sản phẩm chủ lực như chè và những nông sản đặc trưng. Cùng với đó là đào tạo, bồi dưỡng năng lực quản lý cho cán bộ HTX và khuyến khích nguồn nhân lực trẻ, có trình độ tham gia khu vực kinh tế tập thể.

Đầu tư cho HTX không chỉ là đầu tư cho một mô hình kinh tế, mà còn là đầu tư cho năng lực tự chủ của người dân, cho sự gắn kết của cộng đồng và cho những chuỗi giá trị có khả năng tạo ra lợi ích lâu dài. Khi những “nút thắt” về vốn, quản trị, nhân lực và thị trường tiếp tục được tháo gỡ, HTX sẽ có thêm điều kiện phát huy vai trò hạt nhân liên kết, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mở rộng thị trường và kiến tạo những sinh kế bền vững hơn.

Từ thực tiễn ở Sơn La có thể khẳng định, kinh tế tập thể không còn là một khu vực đứng bên lề của quá trình phát triển. Với sự đổi mới về tư duy, phương thức quản trị và khả năng thích ứng với thị trường, các HTX đang từng bước trở thành lực lượng quan trọng trong tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi giá trị và nâng cao chất lượng cuộc sống. Và khi mỗi HTX thực sự trở thành điểm tựa của thành viên và người dân liên kết, mô hình này sẽ không chỉ tạo ra doanh thu hay lợi nhuận, mà còn tạo dựng niềm tin vào một con đường phát triển bền vững: người dân cùng làm, cùng hưởng lợi và cùng vươn lên ngay trên chính quê hương mình.

4 Điểm Nghẽn & 4 Trọng Tâm Tháo Gỡ

Thách thức thực tế và giải pháp chiến lược tại Chiềng Sơn, Sơn La

4 Điểm Nghẽn Cần Hóa Giải
Điểm nghẽn 1
Quy mô & Nguồn vốn

Một số HTX có quy mô nhỏ, vốn điều lệ thấp, thiếu trang thiết bị máy móc và nguồn lực đầu tư phát triển.

Điểm nghẽn 2
Năng lực quản trị & Chính sách

Đội ngũ cán bộ ở một số nơi còn hạn chế về năng lực quản lý; việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa thực sự thuận lợi.

Điểm nghẽn 3
Tính chặt chẽ của liên kết

Liên kết sản xuất và tiêu thụ chưa chặt chẽ; nhiều HTX mới dừng ở khâu tổ chức sản xuất thô, chưa đủ lực đầu tư chế biến sâu.

Điểm nghẽn 4
Rủi ro quay lại sản xuất nhỏ lẻ

Chưa xây dựng được thương hiệu mạnh và mở rộng thị trường; khi đầu ra thiếu ổn định, người dân dễ quay lại cách làm manh mún.

4 Trọng Tâm Giải Pháp Đồng Bộ
Giải pháp 1
Đẩy mạnh liên kết "3 Nhà"

Gắn kết chặt chẽ ba chủ thể: Người dân – HTX – Doanh nghiệp nhằm tạo đầu ra ổn định và chia sẻ lợi ích hài hòa.

Giải pháp 2
Vùng nguyên liệu & Sản phẩm chủ lực

Quy hoạch vùng nguyên liệu ổn định, tập trung phát triển các mặt hàng thế mạnh đặc trưng địa phương như chè và cây ăn quả chất lượng cao.

Giải pháp 3
Đào tạo & Nhân lực trẻ

Bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ HTX; đồng thời khuyến khích, thu hút nguồn nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn tham gia.

Giải pháp 4
Nâng cao năng lực nội tại

Tập trung nâng tầm năng lực quản trị, lập phương án SXKD bài bản, chủ động tiếp cận thị trường và tự chủ tổ chức chuỗi giá trị lâu dài.

An Chi