'Chìa khóa' giảm nghèo trên cao nguyên Quản Bạ (Bài 1): Đổi mới tư duy sản xuất
Chọn cỡ chữ
'Chìa khóa' giảm nghèo trên cao nguyên Quản Bạ (Bài 1): Đổi mới tư duy sản xuất
LTS: Quản Bạ nằm ở cửa ngõ biên giới phía Bắc tỉnh Hà Giang, nơi cư trú của 16 dân tộc anh em, trong đó gần 60% là người Mông, 14% là người Dao, 11% người Tày... Để triển khai hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững, huyện đã chú trọng công tác hỗ trợ phát triển sản xuất, gắn chương trình giảm nghèo với xây dựng nông thôn mới, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, từ đó dần xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại của một bộ phận dân cư. Các mô hình liên kết, trong đó các HTX và tổ hợp tác có vai trò "đầu tàu" tập hợp, dẫn dắt người dân sản xuất theo hướng hiện đại, có giá trị gia tăng cao... ngày càng xuất hiện nhiều trên địa bàn huyện.
Từ sự thay đổi nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và chính người dân trong việc đổi mới phương thức chăn nuôi, trồng trọt, phát triển nghề truyền thống..., nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Quản Bạ đã vươn lên thoát nghèo, làm giàu, tạo hiệu ứng tích cực tại địa phương, góp phần đưa chính sách giảm nghèo phát huy hiệu quả.
Liên kết "đuổi nghèo" bền vững
Công tác giảm nghèo được xác định là nhiệm vụ quan trọng, làm tiền đề bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội. Thời gian qua, xã Tùng Vài, huyện Quản Bạ, đã bước đầu hình thành mô hình liên kết sản xuất, từ đó chung tay xóa đói, giảm nghèo bền vững.
Trình độ, tư duy sản xuất của người dân tộc thiểu số ở Quản Bạ ngày càng được nâng lên.
Với đặc thù của một địa phương có 100% dân số là người dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Mông, Dao, số lượng thanh niên nông thôn làm ăn xa quê ngày càng gia tăng, chính quyền xã Tùng Vài luôn trăn trở làm sao giữ lực lượng này ở lại quê hương phát triển kinh tế.
Để thu hút lực lượng lao động trẻ, có trình độ cao trở lại quê hương làm việc, vấn đề hỗ trợ việc làm, nâng cao thu nhập là cốt lõi, vì vậy, xã Tùng Vài đã phối hợp cùng Đoàn Thanh niên kêu gọi các bạn trẻ cùng nhau liên kết làm kinh kế. Và, Tổ hợp tác sản xuất thanh niên Tùng Vài đang là một ví dụ điển hình.
Hiện, Tổ hợp tác phát triển trên 1.000 con vịt xám, nhờ chăn nuôi khoa học, trung bình mỗi con vịt có trọng lượng khoảng 3,6kg. Trừ các khoản chi phí, mỗi năm, Tổ hợp tác thu nhập khoảng 100 triệu đồng. Ngoài ra, Tổ hợp tác có trên 1.000 con gà xương đen, mỗi con khi xuất chuồng có trọng lượng trên 2kg, giá bán luôn trên 150 nghìn đồng/kg.
Khi tham gia Tổ hợp tác, các thành viên được tiếp cận các nguồn vốn, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, kinh nghiệm và thị trường tiêu thụ trong sản xuất, kinh doanh. 5 thành viên của HTX đều có thu nhập khá, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình.
Theo đánh giá của UBND xã, mô hình sản xuất của Tổ hợp tác sản xuất thanh niên Tùng Vài mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao, thu hút và hỗ trợ vốn cho các đoàn viên, thanh niên nghèo, người dân tộc thiểu số khó khăn có ý chí vươn lên làm giàu.
Bên cạnh đó, đến nay, xã đã hình thành được các mô hình có tiềm năng phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao như Tổ hợp tác thanh niên thôn Bản Thăng nuôi trên 600 con vịt bầu cổ ngắn; mô hình sản xuất của HTX Suối Vui kinh doanh phân bón, chế biến chè, vật liệu xây dựng, hay mô hình tổng hợp về chăn nuôi và sửa xe máy…
Anh Nguyễn Cao Chiến, Giám đốc HTX Suối Vui cho biết, HTX đang thu hút được 17 thành viên, với trên 50% là đồng bào dân tộc thiểu số. Công suất chế biến đạt khoảng 8 tấn chè tươi/ngày, trong đó chè sản xuất theo quy trình qua máy sao, vò đạt 3 tấn/ngày. Ngoài xuất bán cho các thương lái, HTX còn xuất khẩu sang Trung Quốc giúp mang lại nguồn thu gần 1 tỷ đồng/năm.
HTX Suối Vui không chỉ tạo được mối liên kết giữa người dân, phát triển vùng chè nguyên liệu truyền thống mà còn giúp hàng chục hộ gia đình người dân tộc Mông, Dao, Tày… có việc làm và thu nhập ổn định, góp phần vào quá trình giảm nghèo bền vững.
Phát huy thế mạnh địa phương
Giống như ở Tùng Vài, công tác giảm nghèo cũng đang được triển khai hiệu quả trên địa bàn xã Quyết Tiến. Là xã vùng 3 của huyện, Quyết Tiến có 13 thôn, với 13 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm 34,4%, dân tộc Tày, Dao và Nùng cũng chiếm tỷ lệ cao.
Trình độ sản xuất nâng lên giúp người dân phát huy những thế mạnh của địa phương.
Với lợi thế có Quốc lộ 4C chạy qua và khí hậu thích hợp để phát triển các loại rau xanh, cây dược liệu, xã đẩy mạnh thực hiện dự án trồng rau an toàn theo chuỗi giá trị với 200 hộ tham gia, với thu nhập bình quân 50 triệu đồng/ha. Đặc biệt, một số hộ trồng rau an toàn trong nhà lưới cho thu nhập 300 - 400 triệu đồng/ha.
Chương trình phát triển cây dược liệu của xã cũng đang thu hút được 2 doanh nghiệp uy tín tham gia, thành lập được 3 HTX tham gia liên kết trồng, chế biến cây dược liệu, bao tiêu sản phẩm cho người dân. Diện tích vùng sản xuất dược liệu tập trung của xã hiện lên đến 50 ha.
Đơn cử, HTX rau quả Thanh niên Quyết Tiến do anh Vương Quốc Hiếu, dân tộc Nùng ở thôn Bó Lách, xã Quyết Tiến làm Giám đốc hiện có 3 ha trồng cây ngũ gia bì đem lại hiệu quả kinh tế hàng trăm triệu đồng ha/năm, mở hướng thoát nghèo cho hàng chục hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, người dân xã Quyết Tiến còn chú trọng phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò. Hiện, tổng đàn bò của địa phương đạt khoảng 3.000 con, trong đó có một số mô hình chăn nuôi bò với số lượng từ 25 - 100 con. Một số hộ nuôi gà xương đen có quy mô từ 200 con đến trên 1.000 con.
Ông Mùng Xuân Huynh, Phó Trưởng Phòng NN&PTNT huyện Quản Bạ, cho biết trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, thời gian qua, Quản Bạ tập trung định hướng, hỗ trợ người dân thực hiện các mô hình liên kết phát triển kinh tế.
Theo đó, nhiều mô hình hiệu quả được nhân rộng như mô hình trồng dược liệu gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, trồng và phát triển cây hồng không hạt, trồng rau sạch, rau trong nhà lưới, trồng cỏ gắn với phát triển chăn nuôi trâu, bò, thúc đẩy du lịch cộng đồng...
Kết quả, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm từ 61,17% năm 2015 xuống còn xấp xỉ 30% năm 2020 theo tiêu chí nghèo đa chiều, bình quân giảm 6%/năm trở lên. Thu nhập bình quân đầu người toàn huyện tăng 7,5 triệu đồng, từ 15 triệu đồng năm 2015 lên 22,5 triệu đồng năm 2020.
Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp ảnh hưởng khá lớn đến việc tìm kiếm thị trường và tiêu thụ sản phẩm, trong thời gian tới, bên cạnh đẩy mạnh sản xuất, chuyển giao khoa học – kỹ thuật, huyện sẽ tích cực triển khai ứng dụng công nghệ thông tin đến các HTX, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn, qua đó đảm bảo việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản không bị đình trệ. Qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu kép vừa phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn huyện.
Từ những vườn sầu riêng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk, yêu cầu tổ chức lại sản xuất đang trở nên cấp thiết. Ở đó, HTX trở thành điểm tựa hoàn thiện sản xuất, giảm nguy cơ bị ép giá và từng bước đưa nông sản địa phương tiến sâu vào chuỗi giá trị.
Sau 5 năm triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (thường gọi là Chương trình 1719, và nay đã được tích hợp) đã tạo nền tảng quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Thiếu mặt bằng sản xuất, khó đáp ứng điều kiện vay vốn, chưa rõ cơ chế bảo vệ quyền lợi khi tham gia chuỗi liên kết đang là những nút thắt khiến nhiều HTX vùng dân tộc thiểu số và miền núi khó mở rộng quy mô.
Ở vùng núi cao Yên Minh, tỉnh Tuyên Quang, nơi địa hình hiểm trở, đất canh tác kém màu mỡ và điều kiện sản xuất còn nhiều hạn chế, Hà Văn Ngọc, chàng trai dân tộc Tày ở thôn Bản Ké, đã chọn phát triển cây ớt gió để tạo sinh kế.
Trong bối cảnh vẫn còn những đánh giá vai trò HTX chưa đúng mức, chính những thành quả cụ thể từ cơ sở – nơi người dân có việc làm, có thu nhập và gắn bó với sản xuất – đã trở thành minh chứng thuyết phục nhất. Thực tiễn không chỉ phản bác mà còn củng cố nền tảng niềm tin xã hội.
Từng là một trong những huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu, nhưng những năm gần đây, Nậm Nhùn đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ triển khai hàng loạt mô hình kinh tế liên kết tại các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Bộ Công Thương đề xuất sớm áp dụng biểu giá điện sinh hoạt 5 bậc thay cho 6 bậc hiện hành. Theo tính toán sơ bộ, khoảng 94% khách hàng có thể giảm tiền điện, trong khi những hộ tiêu thụ trên 778 kWh/tháng sẽ phải trả nhiều hơn.
Các ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất cho vay từ 1,5% đến 2% một năm, kỳ vọng giảm chi phí tài chính, khơi thông dòng vốn và tạo động lực cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh trong những tháng cuối năm.