VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Cải cách kiểm tra hàng hóa: Hậu kiểm phải rõ, chi phí đừng phình to

Cải cách kiểm tra hàng hóa: Hậu kiểm phải rõ, chi phí đừng phình to

Khi yêu cầu kiểm tra chất lượng hàng hóa đang đặt ra ngày càng nhiều, doanh nghiệp lại đứng trước nguy cơ chịu thêm thủ tục và chi phí. Hậu kiểm vì thế phải rõ vai, kiểm soát đúng rủi ro mà không làm phình thêm gánh nặng tuân thủ.

Điều đáng lo của cải cách kiểm tra hàng hóa không nằm ở việc kiểm tra nhiều hay ít. Vấn đề là doanh nghiệp (DN) có phải tiếp tục đi qua nhiều lớp hồ sơ, cung cấp lại thông tin và chịu những lần kiểm tra có cùng mục tiêu hay không. Nếu cách quản lý thay đổi nhưng chi phí tuân thủ vẫn tăng, hiệu quả cải cách sẽ bị đặt dấu hỏi.

Đừng đẩy chi phí sang doanh nghiệp

Đây cũng là vấn đề đặt ra trong dự thảo Quyết định của Thủ tướng về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa đang được lấy ý kiến trong tháng 9/2026. Dự thảo hướng tới chia sẻ thông tin, cảnh báo rủi ro, phối hợp kiểm tra và xử lý kết quả. Đáng chú ý, quản lý rủi ro, hậu kiểm, lịch sử tuân thủ, dữ liệu điện tử và kết quả hợp pháp đã có được xác định làm nền tảng điều phối.

Hàng hóa cần được kiểm soát theo mức độ rủi ro, tăng hiệu quả hậu kiểm thay vì làm phát sinh thêm thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp.
Hàng hóa cần được kiểm soát theo mức độ rủi ro, tăng hiệu quả hậu kiểm thay vì làm phát sinh thêm thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp.

Nhưng một quy chế phối hợp chỉ thực sự có ý nghĩa nếu giúp DN ít khai báo hơn và giảm kiểm tra trùng lặp. Nếu mỗi cơ quan vẫn thu thập, xử lý thông tin riêng, chi phí cuối cùng vẫn quay lại DN.

Lo ngại này không chỉ nằm trên giấy. Một trường hợp đang cho thấy rõ nghịch lý đó là góp ý mới đây của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đối với dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Hiệp hội cảnh báo cách quản lý mới có thể làm tăng đáng kể thủ tục và chi phí đăng ký, công bố và kiểm tra thực phẩm nhập khẩu.

Theo EuroCham, điều đáng lo là nguồn lực quản lý có nguy cơ tiếp tục dồn nhiều vào tiền kiểm, thay vì tăng cường hậu kiểm. Chẳng hạn, với thủ tục đăng ký, công bố sản phẩm mới, hồ sơ được yêu cầu tới 14 loại tài liệu, cao gấp 3,5-7 lần so với Nghị định 15. Điều này có thể khiến nhiều thực phẩm bao gói sẵn thông thường khó đáp ứng yêu cầu công bố, thậm chí đứng trước nguy cơ phải ngừng sản xuất.

Cải cách kiểm tra hàng hóa chỉ có ý nghĩa khi giảm được hồ sơ, thời gian chờ và chi phí tuân thủ cho DN. Kiểm soát chặt không nhất thiết phải thêm thủ tục, mà cần tập trung nguồn lực vào những sản phẩm, lô hàng và DN có rủi ro cao.

Từ câu chuyện an toàn thực phẩm, một vấn đề lớn hơn được đặt ra cho cải cách kiểm tra hàng hóa: kiểm soát chặt hơn không đồng nghĩa với việc DN phải chịu nhiều thủ tục hơn. Khi yêu cầu đăng ký, công bố, kiểm tra hoặc chứng minh sự phù hợp tăng lên, DN phải bỏ thêm thời gian và nguồn lực. Nhưng nếu cơ quan quản lý vẫn thiếu dữ liệu để theo dõi hàng hóa trên thị trường, chi phí tuân thủ có thể tăng trong khi khả năng kiểm soát chưa chắc tăng tương ứng.

EuroCham cũng cho rằng, với DN nhỏ, những yêu cầu về bằng chứng khoa học, nghiên cứu phát triển hay độ ổn định sản phẩm có thể tạo thêm áp lực đáng kể.

Vấn đề vì thế không phải chọn giữa kiểm soát chặt và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, mà là thay đổi cách kiểm soát. DN có lịch sử tuân thủ tốt phải được giảm kiểm tra lặp lại, trong khi sản phẩm, lô hàng hoặc chủ thể có dấu hiệu rủi ro phải được giám sát sâu hơn.

Đó mới là quản lý dựa trên rủi ro, thay vì chia đều nguồn lực cho mọi đối tượng. Và đây cũng là yêu cầu cấp thiết khi thủ tục hành chính vẫn là một trong những rào cản lớn đối với DN.

Nên nhắc lại, trong Báo cáo Chỉ số Niềm tin Kinh doanh gần đây của EuroCham, 53% DN được khảo sát cho rằng các vấn đề liên quan đến quy định và thủ tục đang gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh. Nhiều DN phản ánh phải cung cấp lại cùng một thông tin, tài liệu cho nhiều cơ quan quản lý.

Chi phí vì thế, tốn kém không chỉ nằm ở lệ phí. Đó còn là thời gian của nhân sự, chi phí cơ hội và sự chậm trễ trong hoạt động kinh doanh. Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng, quản lý hiệu quả không nằm ở việc tạo thêm một giấy phép, mà ở hậu kiểm đúng trọng tâm và xử lý nghiêm vi phạm.

Trao đổi với VnBusiness, ông Dũng cho rằng cơ quan quản lý cần ưu tiên khai thác dữ liệu điện tử, không yêu cầu DN cung cấp lại những thông tin mà Nhà nước đã có quyền tiếp cận và chia sẻ.

“Đây là điểm then chốt. Kết quả kiểm tra hợp pháp còn giá trị phải được sử dụng lại. Lịch sử tuân thủ tốt phải giúp giảm kiểm tra. Cảnh báo rủi ro phải được chuyển nhanh đến cơ quan có khả năng xử lý. Nếu cùng một dữ liệu vẫn phải khai báo nhiều lần, đó là chi phí của sự thiếu kết nối chứ không phải chi phí cần thiết để kiểm soát rủi ro”, ông Dũng nói.

Đủ dữ liệu, hậu kiểm mới hiệu quả

Dự thảo Quyết định về phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa vì vậy có thể trở thành một mắt xích quan trọng. Dự thảo đặt ra nguyên tắc không yêu cầu DN nộp lại thông tin, tài liệu và dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có quyền tiếp cận, chia sẻ và còn giá trị sử dụng.

Với hàng nhập khẩu, cơ quan hải quan và cơ quan kiểm tra chất lượng có thể chia sẻ dữ liệu về tờ khai, lô hàng, chủ hàng, nơi lưu giữ, tình trạng kiểm tra, kết quả và cảnh báo rủi ro. Hàng hóa sản xuất, lưu thông trên thị trường và bán qua nền tảng số cũng nằm trong phạm vi phối hợp.

Tuy nhiên, chia sẻ dữ liệu chỉ thực sự có ý nghĩa khi được dùng để quyết định kiểm tra. Nếu DN vẫn phải nộp lại hồ sơ, còn kết quả đã có không được sử dụng, cải cách sẽ khó khác cách làm cũ. Trong khi hàng hóa lưu chuyển ngày càng nhanh qua thương mại điện tử, hậu kiểm càng phải dựa vào dữ liệu để phản ứng kịp thời.

Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng cơ quan quản lý cần kết nối dữ liệu để theo dõi dòng hàng, cảnh báo và kết quả kiểm tra. Với DN có lịch sử tuân thủ tốt, kết quả hợp lệ phải giúp giảm kiểm tra trùng lặp, qua đó phân bổ nguồn lực đúng theo mức độ rủi ro.

Hậu kiểm muốn hiệu quả phải dựa trên dữ liệu được kết nối và kết quả kiểm tra được sử dụng lại. DN tuân thủ tốt cần được giảm kiểm tra trùng lặp, trong khi vi phạm phải được cảnh báo và xử lý nhanh.

Tuy nhiên, để cách làm này vận hành thực chất, khung pháp lý cho hậu kiểm cũng cần được làm rõ. Ông Nguyễn Như Tiệp, CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, lưu ý hậu kiểm vẫn là khái niệm mới, chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh. Pháp luật hiện chủ yếu quy định về giám sát, thanh tra và kiểm tra chuyên ngành. Do đó, cần xác định rõ hậu kiểm là gì, phạm vi đến đâu và quan hệ thế nào với các hoạt động này.

Nếu không làm rõ, hậu kiểm có thể trở thành một lớp thủ tục mới. Cho nên, cải cách phải được đo bằng việc giảm số lần DN cung cấp lại thông tin, thời gian chờ và chi phí tuân thủ. Quản lý chặt không đồng nghĩa với thêm hồ sơ, mà là kiểm tra ít hơn ở nơi rủi ro thấp, sâu hơn ở nơi rủi ro cao và phản ứng nhanh khi vi phạm xuất hiện.

Đó mới là thước đo của một cuộc cải cách thực chất: DN giảm chi phí tuân thủ, còn Nhà nước nâng được khả năng kiểm soát rủi ro.

                                                               Thế Vinh

Video Hành trình đổi mới sáng tạo từ vườn trái cây miền Tây

Không chỉ làm ra những trái cây đạt chuẩn, HTX Trái cây sinh học OCOP (TP.Cần Thơ) đang đổi mới từ cách tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu đến phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường. Năm 2026, hành trình ấy được ghi nhận bằng giải...

VnBusiness