VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Thị trường

Áp lực tăng trưởng của doanh nghiệp cao su

Áp lực tăng trưởng của doanh nghiệp cao su

Đang duy trì tốc độ tăng trưởng tốt với kim ngạch xuất khẩu (XK) tỷ USD song ngành cao su Việt Nam vẫn phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ, từ sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc đến “nghịch lý” XK nhiều nhưng thiếu nguyên liệu và yếu chế biến sâu.

 

Số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy, trong tháng 7/2017, Việt Nam XK hơn 151.000 tấn cao su, trị giá 225,3 triệu USD, tăng 23,5% về lượng và 19,8% về trị giá so với tháng 6/2017. Như vậy, cao su Việt Nam có tháng thứ ba liên tiếp tăng trưởng mạnh, nâng lượng cao su XK trong 7 tháng đầu năm lên 634,9 nghìn tấn, trị giá 1,1 tỷ USD, tăng 12,2% về lượng và 58,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc vẫn là số 1

Giá cao su XK bình quân trong 7 tháng đầu năm 2017 đạt hơn 1.765 USD/tấn, tăng 41,2% so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, cao su của Việt Nam đã có mặt trên 26 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường XK chủ lực của cao su Việt Nam với xấp xỉ 62,1% tổng lượng cao su XK. Cụ thể, trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam XK sang thị trường Trung Quốc hơn 394,6 nghìn tấn, trị giá 690,7 triệu USD, tăng 24,01% về lượng và 76,26% về giá trị.

Nhìn chung, trong 7 tháng đầu năm, XK cao su sang các thị trường chính đều có tốc độ tăng trưởng dương với hơn 66%. Trong đó, Malaysia – thị trường XK lớn thứ hai của cao su Việt Nam, đạt xấp xỉ 38,6 nghìn tấn, tuy giảm 10,98% so với cùng kỳ năm 2016 nhưng tăng 18,42% về giá trị, đạt 61,3 triệu USD.

Hai thị trường còn lại nằm trong tốp 4 là Hàn Quốc, Hoa Kỳ cũng có tốc độ tăng trưởng tốt với lượng xuất đạt lần lượt 24,8 nghìn tấn và 19,8 nghìn tấn, tăng tương ứng 30,06% và 26,63% so với cùng kỳ 2016. Đặc biệt, XK cao su sang thị trường Singapore đạt 167 tấn, trị giá 249,1 nghìn USD, tăng 568% về lượng và 747,42% về giá trị.

Tuy có sự tăng trưởng mạnh cả về lượng và chất nhưng việc thị trường Trung Quốc tiếp tục chiếm hơn 62% tổng kim ngạch XK khiến nhiều chuyên gia lo lắng. Sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường này dẫn đến rủi ro hiện hữu, chỉ cần Trung Quốc ngưng mua là ngay lập tức cao su Việt Nam rơi vào cảnh lao đao.

Để tránh rủi ro, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) khuyến cáo người trồng cao su nên bình tĩnh, bỏ thói quen chạy theo giá để tăng diện tích ồ ạt. Giữ vững diện tích vườn cao su hiện có, kết hợp trồng xen canh hoa màu, cây trồng khác để có thêm thu nhập, phòng trường hợp giá mủ cao su lại “đảo chiều”.

VnBusiness

Công nhân đang làm việc ở một nhà máy chế biến mủ cao su

Nghịch lý nhập khẩu nguyên liệu

Việt Nam đang là quốc gia đứng thứ ba toàn cầu về XK cao su thiên nhiên nhưng hàng năm, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải bỏ hàng trăm triệu USD nhập khẩu cao su nguyên liệu để chế biến sâu. Hai chủng loại được nhập khẩu nhiều nhất là cao su khối SVR 10 và SVR 20.

Ông Nguyễn Đình Đông, Phó Tổng Giám đốc công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam (Casumina), cho biết bên cạnh yếu tố về chất lượng, sản lượng sản xuất SVR 10, SVR 20 ở trong nước còn khá khiêm tốn, những doanh nghiệp đi sau về sản xuất lốp xe bố thép như Casumina hiện vẫn khó kết nối được với các nhà sản xuất nguyên liệu.

Bà Trần Thị Thúy Hoa, Trưởng ban Tư vấn phát triển ngành cao su (VRA), cho biết, trong cơ cấu cao su nguyên liệu của Việt Nam, hiện chủng loại SVR 10, SVR 20 chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 15 – 17%, trong khi nhu cầu sử dụng thực tế đến 65 – 70%.

Nguyên nhân được giới chuyên môn chỉ ra là do các doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu trong nước chỉ tập trung vào sản xuất những chủng loại cao cấp có giá bán cao như SVR 3L, SVR-CV 50, SVR-CV 60, mà ít quan tâm đầu tư dây chuyền sản xuất SVR 10, SVR 20.

Theo dự báo, đến năm 2020, nhu cầu của thế giới về cao su thiên nhiên là 15 triệu tấn, trong đó chỉ có 150.000 tấn SVR 3L. Nếu các doanh nghiệp không giảm sản lượng 3L và vẫn đầu tư mở rộng sản xuất sẽ có nguy cơ thừa trên 300.000 tấn. Trong khi đó, tiềm năng của ngành công nghiệp săm lốp trong nước là rất lớn, trong 5 – 10 năm tới, sản lượng săm lốp sẽ tăng lên đáng kể, kéo theo nhu cầu cao su SVR 10, SVR 20 tăng lên.

Với xu thế trên, không ít doanh nghiệp đã bắt đầu chuyển hướng đầu tư mới dây chuyền sản xuất cao su SVR 10, SVR 20 thay vì SVR 3L như trước đây. Đơn cử như công ty Cao su Phú Riềng, Tổng công ty Cao su Đồng Nai…

Ông Đỗ Minh Tuấn, đại diện công ty TNHH MTV Tổng công ty Cao su Đồng Nai, cho biết: “Chúng tôi đã lên kế hoạch cho các nhà máy tập trung sản xuất đa dạng chủng loại cao su, với mục tiêu đạt khoảng 27.600 tấn sản phẩm. Trong lĩnh vực chế biến sâu, công ty sẽ nâng sản lượng lên khoảng 3.000 tấn sản phẩm trong năm 2017”.

Tuy nhiên, sự chuyển đổi cơ cấu đòi hỏi doanh nghiệp cần có chiến lược thông minh và lộ trình phù hợp. Trước hết, để phát triển bền vững, ngành cao su cần có giải pháp giảm xuất thô, chú trọng thị trường nội địa, cơ cấu lại vùng sản xuất để giảm nhập khẩu nguyên liệu và đa dạng thị trường để tránh phụ thuộc.

Hiến Nguyễn

}
VnBusiness