Ruộng lúa nắm 36% dư địa giảm phát thải của nông nghiệp
Canh tác lúa chiếm tới 36% tiềm năng cắt giảm phát thải của nông nghiệp toàn cầu, cao gấp 4 lần chăn nuôi. Với các giải pháp sẵn có, lượng khí mê-tan trên đồng ruộng có thể giảm tới 65%. Vấn đề còn lại là biến kỹ thuật thành lợi ích kinh tế đủ lớn để hàng triệu nông dân thay đổi cách sản xuất.
Trong cuộc tranh luận về khí mê-tan nông nghiệp, chăn nuôi thường được nhắc đến đầu tiên. Nhưng những số liệu được công bố tại hội thảo quốc tế về lúa gạo phát thải thấp diễn ra ở Cần Thơ ngày 22/7 cho thấy ruộng lúa mới là nơi nắm giữ dư địa cắt giảm lớn nhất.
Không còn là câu chuyện sản xuất nhiều hơn
Theo báo cáo của các nhà nghiên cứu Võ T.B. Thương và Ando M. Radanielson thuộc Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế (IRRI), cây lúa chiếm 36% tiềm năng giảm phát thải của ngành nông nghiệp toàn cầu, cao hơn nhiều so với mức 9% của chăn nuôi và 3% của các loại đất trồng trọt khác.
Nguyên nhân nằm ngay trong phương thức canh tác quen thuộc. Ruộng lúa ngập nước tạo môi trường yếm khí để vi sinh vật sinh khí mê-tan. Phát thải tiếp tục tăng khi nông dân vùi thêm rơm rạ tươi hay phân chuồng. Đây là thói quen canh tác hàng chục năm mà hầu hết nông dân châu Á vẫn làm.
Điều đáng chú ý là ngành lúa gạo không phải chờ một đột phá công nghệ mới có thể thay đổi tình hình. Dùng giống ngắn ngày, điều chỉnh thời điểm vùi rơm rạ, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý phân bón và phụ phẩm đồng bộ có thể giúp giảm tới 65% lượng khí mê-tan.
Nói cách khác, phần lớn dư địa giảm phát thải nằm ở việc thay đổi cách canh tác trên đồng ruộng. Nhưng thay đổi tập quán của hàng triệu hộ nông dân nhỏ lẻ có thể khó hơn nhiều so với việc công bố một giống lúa hay quy trình kỹ thuật mới.
Châu Á hiện sản xuất khoảng 90% lượng lúa gạo của thế giới, trong khi cây lúa bảo đảm sinh kế cho hơn 3,5 tỷ người. Riêng năm 2023, Việt Nam sản xuất khoảng 43,5 triệu tấn lúa và xuất khẩu 8,3 triệu tấn gạo.
Tuy nhiên, ngành hàng này đang chịu sức ép kép từ biến đổi khí hậu và yêu cầu cắt giảm khí nhà kính, đặc biệt là khí mê-tan.
GS.TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng: “Thách thức lớn nhất của chúng ta ngày nay không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra nhiều lúa gạo hơn, mà là phải sản xuất một cách bền vững hơn, phát thải thấp hơn, khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu tốt hơn, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn và đem lại thu nhập cao hơn cho người nông dân”.
Theo Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, ngành lúa gạo cần đẩy nhanh ứng dụng khoa học, công nghệ, quản lý nước ngập khô xen kẽ, cơ giới hóa gieo sạ, tuần hoàn rơm rạ và chuyển đổi số. Tuy nhiên, công nghệ chỉ tạo ra tác động khi được nông dân chấp nhận và áp dụng hiệu quả.
Điểm nghẽn vì thế không chỉ nằm ở nghiên cứu giống hay quy trình mới, mà còn ở năng lực nhân rộng thông qua hệ thống khuyến nông, chính sách, cơ chế thị trường, số hóa và sự hợp tác giữa nhà khoa học, chính quyền, doanh nghiệp với nông dân.
1 triệu hecta và bài toán thay đổi tập quán
Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy rõ khoảng cách giữa tiến bộ khoa học và thực tế sản xuất. Mỗi năm, toàn vùng gieo trồng khoảng 3,9 triệu ha lúa, đạt sản lượng 24,2 triệu tấn, chiếm 56% sản lượng cả nước. Năng suất bình quân đạt 6,2 tấn/ha.
Tuy vậy, theo nhóm tác giả Lê Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hùng và Đinh Kim Dũng, phương thức canh tác truyền thống vẫn sử dụng trên 120 kg giống và hơn 110 kg đạm cho mỗi hecta. Việc duy trì ruộng ngập nước liên tục, vùi rơm tươi và đốt rơm rạ sau thu hoạch làm tăng phát thải, đồng thời gây thất thoát dinh dưỡng.
Gieo sạ dày còn khiến lúa dễ đổ ngã và làm tăng tổn thất trong thu hoạch. Khi mùa vụ tập trung nhưng năng lực sấy không theo kịp, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch có thể từ 10% trở lên.
Bởi vậy, giảm phát thải không thể chỉ xử lý một công đoạn. Quá trình chuyển đổi phải bao quát từ giống, gieo sạ, dinh dưỡng, quản lý nước và rơm rạ đến thu hoạch, sấy, chế biến và tiêu thụ.
Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long được kỳ vọng tạo ra quy mô đủ lớn để tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị này.
Tại TP. Cần Thơ, nơi có quy mô gieo trồng trên 700.000 ha mỗi năm và sản lượng trên 4,6 triệu tấn, nhiều giải pháp đã được triển khai đồng thời.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ, cho biết địa phương đang giảm lượng giống gieo sạ, áp dụng kỹ thuật quản lý nước ngập khô xen kẽ, đẩy mạnh cơ giới hóa, phát triển kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ và từng bước vận hành hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.
Kết quả bước đầu cho thấy các mô hình không chỉ cắt giảm khí nhà kính mà còn giúp giảm chi phí sản xuất và nâng khả năng cạnh tranh của hạt gạo.
Tuy nhiên, để nhân rộng, Cần Thơ cần tiếp tục nhận được sự phối hợp của các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và hợp tác xã, cùng sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và cơ chế tài chính xanh.
Đề án 1 triệu hecta không đơn thuần là chương trình khuyến nông. Phía sau các quy trình canh tác là một hạ tầng đang được xây dựng cho thị trường lúa gạo phát thải thấp.
Hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định giúp lượng hóa mức phát thải được cắt giảm. Tín chỉ các-bon có thể biến phần giảm phát thải thành nguồn thu. Thương hiệu “Gạo Việt Xanh - Phát thải thấp” được kỳ vọng tạo ra một dòng sản phẩm khác biệt so với gạo đại trà.
Với doanh nghiệp xuất khẩu, dấu chân các-bon có thể trở thành một thông số cạnh tranh mới bên cạnh giá, chất lượng hạt và khả năng giao hàng. Nhưng những công cụ thị trường này chỉ có giá trị nếu mức giảm phát thải được đo lường đáng tin cậy và nông dân thực sự thay đổi cách canh tác.
Giống tốt vẫn cần một hệ thống đưa xuống ruộng
Bên cạnh kỹ thuật canh tác, tốc độ thay thế giống là một mắt xích quan trọng trong quá trình chuyển đổi.
TS. Mary Jean Du, Trưởng nhóm Chọn tạo giống khu vực Đông Nam Á thuộc IRRI, giới thiệu Dự án AFACI RSR nhằm thúc đẩy công nhận và phân phối hạt giống của các giống lúa có khả năng chống chịu điều kiện bất thuận tại các quốc gia thành viên AFACI.
Trong giai đoạn 2025-2029, dự án tập trung mở rộng quy mô, củng cố hệ thống hạt giống và phát triển các tính trạng mới. Mục tiêu là xây dựng quan hệ đối tác tại 10 quốc gia, triển khai giống phù hợp với từng phân khúc thị trường, tăng mức độ chấp nhận của nông dân và đẩy nhanh tốc độ thay thế giống trên đồng ruộng.
Quy trình nhân rộng gồm lựa chọn địa điểm, xác định nông dân hợp tác, huy động các bên liên quan, tổ chức trình diễn và thu thập dữ liệu. Các dòng, giống ưu tú của IRRI mang tính trạng mới được đánh giá tại nhiều điểm trong ít nhất hai vụ trước khi làm cơ sở công nhận và đưa vào sản xuất.
Một giống lúa tốt vì thế chưa đủ. Giống phải phù hợp điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường, được cung ứng qua một hệ thống hạt giống linh hoạt, có dữ liệu thực địa và được chính nông dân lựa chọn.
Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Nhưng với ngành lúa gạo, động lực chuyển đổi không thể chỉ đến từ một cam kết khí hậu. Sản xuất phát thải thấp chỉ có thể nhân rộng khi giải pháp kỹ thuật đồng thời giảm chi phí, tăng thu nhập và mở được thị trường cho sản phẩm.
Khi mỗi tấn khí nhà kính được cắt giảm có thể đo đếm, mỗi lô gạo phát thải thấp có thể nhận diện và người nông dân được chia sẻ lợi ích, khoa học mới thực sự rời phòng thí nghiệm để tạo ra thay đổi trên đồng ruộng.
Phụng Tiên

ACB lãi hơn 10.700 tỷ đồng nửa đầu năm, tín dụng bán lẻ và SME tăng tốc trở lại
Giá vàng nhẫn tăng vọt, bám sát vàng miếng
Tín dụng ưu tiên nhà ở xã hội, siết dòng vốn đầu cơ
Trốn đóng BHXH khó thoát lưới dữ liệu thuế

Đất đấu giá hiện ra sao sau thời ‘gây bão’?
Thành phố công viên sinh thái Vinhomes Golden City đón đầu xu hướng đô thị xanh tại Hải Phòng
Đại gia bất động sản và ‘canh bạc’ với các dự án mới
Thành viên Tây Hồ Group bị chỉ ra nhiều vi phạm bán nhà ở xã hội
Giải ngân gói tín dụng 145.000 tỷ đồng cho nhà ở xã hội sau 3 năm ra sao?
Sau 3 năm triển khai theo Nghị quyết 33 của Chính phủ, gói tín dụng 145.000 tỷ đồng dành cho nhà ở xã hội mới giải ngân khoảng 12.440 tỷ đồng, tương đương 8,5% quy mô chương trình.
Đừng bỏ lỡ
HTX Dịch vụ điện Liên Hà: “Ngôi sao” tỏa sáng từ chuyển đổi số
Đảm bảo nguồn điện an toàn, ổn định, không ngừng đổi mới quản trị và đẩy mạnh chuyển đổi số, HTX Dịch vụ điện Liên Hà (xã Thư Lâm, Hà Nội) đã trở thành điểm sáng của kinh tế tập thể. Giải thưởng "Ngôi sao Hợp tác xã" năm 2026 là sự ghi nhận xứng...
































