VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam vẫn tăng giữa bão thương mại toàn cầu

Niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam vẫn tăng giữa bão thương mại toàn cầu

Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý II/2026 của EuroCham tăng lên 79,7 điểm, mức cao thứ hai trong bảy năm, cho thấy Việt Nam vẫn giữ được sức hút trong mắt các nhà đầu tư châu Âu ngay giữa giai đoạn nhiều bất định nhất của thương mại toàn cầu.

Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) của EuroCham đạt 79,7 điểm trong quý II/2026, tăng 7 điểm so với quý trước và chỉ còn cách 0,3 điểm so với mức cao nhất trong 7 năm
Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) của EuroCham đạt 79,7 điểm trong quý II/2026, tăng 7 điểm so với quý trước và chỉ còn cách 0,3 điểm so với mức cao nhất trong 7 năm

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu vẫn bị phủ bóng bởi căng thẳng địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và những thay đổi khó lường trong chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn, kết quả khảo sát mới nhất của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) mang đến một tín hiệu đáng chú ý. Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (Business Confidence Index - BCI) quý II/2026 đạt 79,7 điểm, chỉ thấp hơn 0,3 điểm so với mức cao nhất trong bảy năm qua.

Con số này không đơn thuần phản ánh tâm lý lạc quan của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu. Sau 15 năm theo dõi, BCI đã trở thành một chỉ báo được nhiều nhà đầu tư và cơ quan quản lý sử dụng để đánh giá sức khỏe môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Vì vậy, việc chỉ số phục hồi mạnh ngay sau một quý chịu tác động từ căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị cho thấy niềm tin vào thị trường Việt Nam vẫn được duy trì, bất chấp những biến động bên ngoài.

Ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch EuroCham, cho rằng kết quả này phản ánh khả năng chống chịu của nền kinh tế Việt Nam cũng như cộng đồng doanh nghiệp châu Âu đang hoạt động tại đây.

Theo ông, nửa đầu năm 2026 diễn ra trong bối cảnh nhiều bất ổn, song phần lớn doanh nghiệp thành viên vẫn đạt kết quả vượt kỳ vọng nội bộ. Khảo sát lần này cũng là một trong những cuộc điều tra toàn diện nhất của EuroCham khi mở rộng đánh giá sang nhiều vấn đề như địa chính trị, thương mại, cải cách hành chính và bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Phục hồi trên diện rộng, nhưng cùng một điểm nghẽn cũ

63% doanh nghiệp châu Âu ghi nhận điều kiện kinh doanh tích cực trong quý II. 69% kỳ vọng tình hình sẽ tiếp tục cải thiện trong quý tới, tăng 11 điểm phần trăm chỉ sau 3 tháng.

Ông Xavier Depouilly, Tổng Giám đốc DXL Research & Consulting, mô tả đây là sự phục hồi trên diện rộng. Ngành Nông nghiệp và Thực phẩm tăng khiêm tốn 5,5 điểm; Du lịch và Khách sạn bứt tốc 8,7 điểm, đạt 90,4 điểm, cao hơn hẳn mặt bằng chung.

Đứng sau đà tăng, 36% doanh nghiệp báo doanh thu và lợi nhuận vận hành vượt kỳ vọng nội bộ, 32% ghi nhận đơn hàng và hợp đồng mới gia tăng, 24% thấy sức mua nội địa phục hồi rõ. Tăng trưởng trải đều ở sản xuất, du lịch, bất động sản và các ngành xuất khẩu, không dồn vào một lĩnh vực đơn lẻ.

Ông Jaspaert gắn con số này với bối cảnh vĩ mô rộng hơn. GDP Việt Nam tăng 8,18% trong sáu tháng đầu năm 2026, Việt Nam leo lên vị trí 27 trong Bảng xếp hạng Năng lực Cạnh tranh Thế giới của IMD, và sắp được FTSE Russell nâng hạng lên Thị trường Mới nổi Hạng hai vào tháng 9.

“Điều tạo nên khác biệt của Việt Nam trong một khu vực cạnh tranh gay gắt là việc Chính phủ cụ thể hóa khát vọng tăng trưởng thành các nghị quyết và kiên trì triển khai cải cách cấu trúc”, ông nói.

Từ đầu năm 2026, Chính phủ đẩy mạnh cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy hành chính, hoàn thiện chính sách thu hút FDI chất lượng cao. Trọng tâm là Nghị quyết 10 đã chuyển hướng thu hút đầu tư nước ngoài từ lợi thế chi phí lao động và quy mô sang các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. 

Hiệu quả kinh doanh tốt không bù được cho thủ tục hành chính chậm. 53% doanh nghiệp vẫn xếp sự chậm trễ trong thủ tục hành chính, việc thực thi chính sách thiếu nhất quán và công tác quản lý thuế chưa minh bạch vào nhóm rào cản lớn nhất cho kế hoạch mở rộng dài hạn.

Bên cạnh những điểm nghẽn cũ, có một áp lực mới. Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, tăng liên tục từ quý IV/2025, nay được 38% doanh nghiệp xếp vào nhóm ba thách thức vận hành lớn nhất, cùng những vướng mắc ngày càng rõ về chứng nhận, kiểm nghiệm và tiêu chuẩn sản phẩm.

Hệ quả đo được bằng số với 34% doanh nghiệp vận hành chậm hơn và chậm trễ trong triển khai, 29% phải phân bổ nguồn lực cho việc hành chính thay vì hoạt động cốt lõi, 27% nhận định năng lực cạnh tranh suy giảm hoặc khả năng tiếp cận thị trường bị hạn chế, 25% ghi nhận chi phí và gánh nặng tài chính gia tăng, 25% khác gặp khó vì yêu cầu thay đổi chưa rõ ràng, 16% cho biết kế hoạch đầu tư hoặc tăng trưởng bị ảnh hưởng, 16% bị hạn chế năng lực nhân sự, 14% mất doanh thu, khách hàng hoặc cơ hội kinh doanh.

Nhiều doanh nghiệp gọi đây là một khoản chi phí ẩn đánh vào đổi mới sáng tạo, nó bào mòn khả năng tái đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, cho mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Việc triển khai thiếu thống nhất giữa các cơ quan, khung chính sách thay đổi liên tục và tình trạng chậm hoàn thuế giá trị gia tăng tiếp tục gây bất ổn cho dòng vốn lưu động.

Sở hữu trí tuệ là một mặt trận khác của cùng vấn đề. Trong số doanh nghiệp đã đăng ký quyền sở hữu trí tuệ hoặc nhãn hiệu tại Việt Nam, 32% từng gặp ít nhất một vướng mắc khi đăng ký hoặc thực thi quyền. Phổ biến nhất là cơ chế giải quyết tranh chấp chưa hiệu quả (28%) và thủ tục hành chính kéo dài (18%). Đây là hai yếu tố có thể khiến nhà đầu tư nước ngoài chần chừ trước khi đưa công nghệ và tài sản trí tuệ giá trị cao vào Việt Nam.

Năm 2026, Chính phủ ban hành nhiều cải cách nhằm hoàn thiện khung pháp lý sở hữu trí tuệ và siết thực thi chống hàng giả, xâm phạm nhãn hiệu; cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận nhưng muốn chờ thêm thời gian để kiểm chứng hiệu quả.

“Việc Việt Nam ban hành hơn 80 luật và văn bản sửa đổi chỉ trong nửa đầu năm nay đánh dấu một giai đoạn cải cách đầy tham vọng”, ông Jaspaert nói. “Nhưng với các doanh nghiệp nước ngoài, việc theo kịp làn sóng cải cách pháp lý này đã trở thành một thách thức thường trực.”

Khoảng 1/3 doanh nghiệp EuroCham khảo sát cho biết thủ tục hành chính làm chậm tiến độ triển khai dự án; 29% phải dành thêm nguồn lực xử lý hồ sơ, còn 27% cho rằng hệ thống quy định phức tạp làm giảm năng lực cạnh tranh
Khoảng 1/3 doanh nghiệp EuroCham khảo sát cho biết thủ tục hành chính làm chậm tiến độ triển khai dự án; 29% phải dành thêm nguồn lực xử lý hồ sơ, còn 27% cho rằng hệ thống quy định phức tạp làm giảm năng lực cạnh tranh

Bất ổn toàn cầu định hình lại chiến lược, không phải niềm tin

46% lãnh đạo doanh nghiệp cho biết giao thương chịu tác động tiêu cực rõ rệt từ căng thẳng thương mại quốc tế và biến động địa chính trị. Khoảng một phần ba ghi nhận tác động đan xen giữa tích cực và tiêu cực tùy mảng hoạt động.

Nhóm chịu thiệt nặng nhất không phải các tập đoàn đa quốc gia. Nhóm này thậm chí không ghi nhận tác động tích cực nào từ việc chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển mà là doanh nghiệp quy mô vừa. Các doanh nghiệp này không có nguồn lực tài chính như tập đoàn lớn, không có sự linh hoạt của doanh nghiệp nhỏ, nên gánh áp lực nặng hơn từ chi phí logistics và chi phí tuân thủ ngày càng tăng.

78% doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi chi phí vận tải và logistics tăng, 76% bởi chi phí năng lượng và nhiên liệu tăng, cộng thêm tình trạng gián đoạn logistics, chậm giao hàng, niềm tin khách hàng suy giảm.

Phản ứng của doanh nghiệp là chủ động, không thụ động chờ đợi: trong số bị ảnh hưởng bởi gián đoạn logistics, 53% đã tăng thời gian dự phòng trong chuỗi cung ứng, một phần tư trong đó bổ sung thêm hơn hai tuần vào kế hoạch vận chuyển. Rõ nhất ở nhóm giao thương với Mỹ và EU, nơi chuỗi cung ứng xuyên biên giới vốn đã phức tạp.

Một số doanh nghiệp lại được lợi với đơn hàng sản xuất và dòng vốn đầu tư tăng khi các nhà sản xuất quốc tế dịch chuyển chiến lược cung ứng sang Việt Nam, củng cố vai trò trung tâm sản xuất và cung ứng của khu vực.

Ngược lại, quy tắc xuất xứ (RoO) đang gây khó cho hơn một nửa doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, gần 1/3 trong số đó ở mức khó khăn trung bình đến đáng kể, chủ yếu do phải thu thập chứng từ từ nhà cung cấp nước ngoài, chứng minh quá trình gia công chế biến với hải quan, theo dõi tuân thủ trong những mạng lưới cung ứng ngày càng phân tán.

Về lợi nhuận, 2/3 doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực bởi biến động toàn cầu, khoảng một nửa trong đó sụt dưới 10%, 4% thiệt hại trên 30%; 14% doanh nghiệp hưởng lợi, phần lớn cải thiện dưới 10%, một nhóm nhỏ 2% tăng trên 30%.

Chia theo thị trường, nhóm tập trung vào Việt Nam có 71% tiêu cực, 17% không ảnh hưởng, 12% hưởng lợi; nhóm gắn với EU có 61% tiêu cực, 22% không ảnh hưởng, 18% hưởng lợi; nhóm gắn với Mỹ có 72% tiêu cực, chỉ 4% không ảnh hưởng, 24% hưởng lợi; nhóm gắn với ASEAN ngoài Việt Nam có 64% tiêu cực, 27% không ảnh hưởng, 9% hưởng lợi. Doanh nghiệp gắn kết sâu với thương mại EU-Việt Nam chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài. Đa dạng hóa thị trường vẫn là tấm khiên hiệu quả nhất.

54% doanh nghiệp được khảo sát xem Việt Nam là thị trường chiến lược, cứ điểm hoạt động cốt lõi. Thêm 18% xem đây là động lực tăng trưởng quan trọng.

Định vị đã đổi khác, Việt Nam giờ được nhìn nhận là nền tảng cho chuỗi cung ứng, cho dịch vụ, cho mở rộng hoạt động ra cả Đông Nam Á, không đơn thuần là nơi lắp ráp giá rẻ.

Bài toán còn lại là chuyển hóa niềm tin đó thành dòng vốn chất lượng cao và bền vững và điều kiện để làm được việc đó, chính cộng đồng doanh nghiệp đã chỉ rõ trong khảo sát. Bao gồm đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa pháp luật, thực thi chính sách nhất quán ở mọi cấp, để nguồn lực doanh nghiệp dồn vào đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất thay vì vào thủ tục giấy tờ.

“Niềm tin được phản ánh qua kết quả BCI quý này là một tín hiệu rất tích cực, nhưng niềm tin thôi chưa đủ”, ông Jaspaert kết luận. “Trong suốt 15 năm qua, BCI đã phát triển từ một khảo sát đo lường tâm lý doanh nghiệp hàng quý trở thành một chỉ báo kinh tế được các cơ quan quản lý tin cậy và sử dụng làm cơ sở tham chiếu thực tiễn thị trường. EuroCham sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trên hành trình trở thành điểm đến hàng đầu châu Á cho các dòng vốn đầu tư chất lượng cao, bền vững và hướng tới tương lai.”

Trung Việt

Video HTX Vận tải Lạc Dương: Dấu ấn của một hành trình

Hơn 4 thập kỷ đồng hành cùng sự phát triển của vùng đất LangBiang, HTX Vận tải Lạc Dương đã khẳng định vai trò là mô hình kinh tế tập thể tiêu biểu, góp phần thúc đẩy du lịch, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân địa phương. Với phương châm...

VnBusiness