VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

FDI và nội lực, bài toán tăng trưởng hai con số của Việt Nam

FDI và nội lực, bài toán tăng trưởng hai con số của Việt Nam

FDI đã đồng hành với bước tiến từ nền kinh tế khoảng 8 tỷ USD năm 1986 lên hơn 510 tỷ USD năm 2025. Nhưng mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt Việt Nam trước một bài toán khó hơn là biến gần 4 thập kỷ thu hút vốn ngoại thành công nghệ, năng lực doanh nghiệp và sức mạnh nội sinh của nền kinh tế.

Những con số hiện tại đã đủ cho thấy quy mô của khu vực FDI. Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có hơn 45.400 dự án FDI còn hiệu lực, với khoảng 529,6 tỷ USD vốn đăng ký và 350,2 tỷ USD vốn thực hiện lũy kế. Riêng năm 2025, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm gần đây, cho thấy dòng vốn này chưa hề có dấu hiệu chững lại.

Vốn, công nghiệp và việc làm từ dòng vốn FDI

Đáng chú ý hơn là tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam liên tục gia tăng, từ 6% giai đoạn 1988–1996 lên 13,5% giai đoạn 1997–2005, 18,6% giai đoạn 2006–2015 và 21,3% giai đoạn 2016–2020.

Nói cách khác, cứ mỗi thập kỷ trôi qua, nền kinh tế Việt Nam lại phụ thuộc nhiều hơn, chứ không ít hơn, vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

VnBusiness

Ở lĩnh vực công nghiệp, FDI đã góp phần hình thành và phát triển nhiều ngành mà nội lực khó có thể tạo dựng với tốc độ tương tự, từ điện tử, điện thoại, thiết bị viễn thông, máy tính, cơ khí, ô tô, xe máy đến dệt may, da giày, chế biến chế tạo và logistics hiện đại. Quan trọng hơn, FDI đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Cùng với dòng vốn, các tập đoàn nước ngoài còn mang đến công nghệ, phương thức quản trị, thị trường, chuỗi cung ứng và các tiêu chuẩn quốc tế, qua đó thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Kết quả là năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt khoảng 475 tỷ USD, trong đó khu vực FDI đóng góp khoảng 367,09 tỷ USD, tương đương 77,3%.

Con số này cho thấy vai trò nổi bật của khu vực FDI trong việc mở rộng năng lực xuất khẩu và đưa hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu.

Nhưng cùng con số đó cũng là lời cảnh báo về mức độ phụ thuộc của cán cân thương mại Việt Nam vào các quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài.

Về lao động, đóng góp của FDI không chỉ thể hiện ở số lượng việc làm được tạo ra trong các ngành công nghiệp, chế biến chế tạo, dịch vụ, logistics hay xây dựng.

Quan trọng hơn, khu vực này đã góp phần hình thành đội ngũ lao động có kỹ năng ngày càng cao, từ công nhân công nghiệp, kỹ thuật viên, kỹ sư đến cán bộ quản lý, chuyên gia logistics và công nghệ, được đào tạo và làm việc trong môi trường áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế.

Đây cũng là một dạng tích lũy vốn con người mà Việt Nam có được sau gần 40 năm thu hút FDI, đồng thời tạo ra sự lan tỏa về tri thức và kinh nghiệm quản trị.

Nhiều doanh nhân, kỹ sư và cán bộ quản lý sau thời gian làm việc tại các tập đoàn FDI đã chuyển sang doanh nghiệp trong nước hoặc tự khởi nghiệp, mang theo kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy được. Tuy nhiên, quy mô và mức độ lan tỏa này trên thực tế vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng.

FDI cũng để lại dấu ấn rõ nét ở cấp độ vĩ mô khi góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đồng thời đưa sản xuất công nghiệp từng bước chuyển từ các công đoạn giản đơn sang chế biến, chế tạo, điện tử và những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao hơn.

Về ngân sách, giai đoạn 2016–2020, khu vực FDI đóng góp hơn 45,5 tỷ USD, tương đương khoảng 21,3% tổng thu ngân sách nhà nước, chưa kể các nguồn thu gián tiếp từ thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, đất đai và các dịch vụ liên quan.

Bài toán kế tiếp là biến vốn ngoại thành năng lực nội sinh

Không thể quy toàn bộ bước tiến từ quy mô khoảng 8 tỷ USD lên hơn 510 tỷ USD của kinh tế Việt Nam cho riêng FDI, nhưng cũng khó phủ nhận vai trò quan trọng của khu vực này trong quá trình tăng trưởng, công nghiệp hóa và hội nhập.

Ở giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã đi qua giai đoạn cần chứng minh giá trị của vốn ngoại. Bài toán tiếp theo khó hơn nhiều là chuyển từ thu hút và tận dụng vốn ngoại sang hấp thụ công nghệ, tri thức, năng lực quản trị và từng bước làm chủ nhiều hơn giá trị được tạo ra từ FDI hay không.

Tỷ trọng 77,3% kim ngạch xuất khẩu thuộc về khu vực FDI, cùng với đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng, cho thấy vốn đầu tư nước ngoài đã phát huy vai trò quan trọng trong từng giai đoạn phát triển của Việt Nam.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn mới, cách tiếp cận FDI cũng cần thay đổi tương ứng. Thay vì chú trọng mở rộng quy mô, Việt Nam cần thu hút có chọn lọc hơn, ưu tiên các dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và có khả năng tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Quan trọng hơn, dòng vốn FDI cần được chuyển hóa tốt hơn thành công nghệ, năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, qua đó củng cố nội lực và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.

Đây cũng là bài toán quan trọng đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Việt Nam đang hướng tới.

Việc tiếp tục thu hút FDI có thể tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng, nhưng để duy trì tốc độ cao trong dài hạn, Việt Nam cần nâng cao khả năng hấp thụ những giá trị đi cùng dòng vốn này.

Công nghệ, kinh nghiệm quản trị, kỹ năng và giá trị gia tăng cần được lan tỏa sâu hơn sang doanh nghiệp và người lao động trong nước.

Sau gần 40 năm thành công trong thu hút vốn ngoại, chặng đường tiếp theo đặt ra một yêu cầu khó hơn là biến ngày càng nhiều giá trị do FDI tạo ra thành năng lực của chính nền kinh tế Việt Nam.

TS. Phan Hữu Thắng

Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính)

Video Từ ao đất đến những vụ tôm công nghệ cao

Mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất, HTX Chợ Bến (xã Long Điền, Tp. HCM) đã đưa công nghệ cao vào nuôi tôm thẻ chân trắng. Mô hình mới giúp kiểm soát tốt môi trường, hạn chế dịch bệnh, rút ngắn thời gian nuôi và nâng sản lượng lên hơn 100 tấn mỗi...

VnBusiness