VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Cooperative

191.000 tỷ đồng của Quỹ tín dụng nhân dân: “mạch vốn” cho kinh tế tập thể

191.000 tỷ đồng của Quỹ tín dụng nhân dân: “mạch vốn” cho kinh tế tập thể

Với hơn 1.100 quỹ và nguồn vốn khoảng 191.000 tỷ đồng, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đang trở thành kênh dẫn vốn quan trọng cho hộ gia đình, hợp tác xã và kinh tế địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể bền vững.

Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khu vực kinh tế tập thể ngày càng được khẳng định là một trong những trụ cột quan trọng nhằm bảo đảm tăng trưởng bao trùm và bền vững. Tuy nhiên, để khu vực này phát huy đầy đủ tiềm năng, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng phù hợp với đặc thù hoạt động vẫn là yếu tố then chốt.

Trong bối cảnh đó, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đang ngày càng khẳng định vai trò là một thiết chế tài chính cộng đồng gắn bó trực tiếp với đời sống kinh tế xã hội ở cơ sở. Việc củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống này vì vậy được xem là yêu cầu quan trọng trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.

Kênh dẫn vốn quan trọng

Phát biểu tại Hội thảo “Củng cố, nâng cao vai trò của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong nền kinh tế và khu vực kinh tế tập thể” (chiều 12/3), ông Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), nhấn mạnh rằng Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao, và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để đạt được các mục tiêu này, Nhà nước cần huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể được xác định là những động lực quan trọng của nền kinh tế.

Hội thảo “Củng cố, nâng cao vai trò của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong nền kinh tế và khu vực kinh tế tập thể” (chiều 12/3).
Hội thảo “Củng cố, nâng cao vai trò của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong nền kinh tế và khu vực kinh tế tập thể” (chiều 12/3).

Theo ông Tuấn, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tập thể, trong đó có Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

Mục tiêu đặt ra là xây dựng khu vực kinh tế tập thể năng động, hiệu quả và bền vững, cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

“Đây không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần, mà còn là cam kết chính trị mạnh mẽ về tăng trưởng bao trùm, trong đó mọi người dân và mọi thành phần kinh tế đều có cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển,” ông Tuấn nhấn mạnh.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy khu vực HTX và kinh tế tập thể vẫn đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Chính trong bối cảnh đó, hệ thống QTDND nổi lên như một mô hình tài chính hợp tác có vai trò đặc biệt.

Theo Chiến lược phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2021–2030, hệ thống QTDND là một trong những cấu phần quan trọng của hệ sinh thái tài chính phục vụ khu vực kinh tế tập thể.

Hiện cả nước có hơn 1.100 QTDND, với tổng nguồn vốn khoảng 191.000 tỷ đồng và tổng dư nợ khoảng 138.000 tỷ đồng. Đây là nguồn lực tài chính đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở nhiều địa phương, đặc biệt tại khu vực nông thôn.

Điểm đặc thù của QTDND là hoạt động trực tiếp tại cơ sở, gắn bó chặt chẽ với cộng đồng dân cư. Không giống như các ngân hàng thương mại hướng tới tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, QTDND vận hành trên nền tảng hợp tác, lấy lợi ích của thành viên làm trung tâm.

Hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương

Từ góc nhìn thực tiễn, ông Vương Đức Lập, Giám đốc QTDND xã Hương Sơn (Hà Nội), cho rằng quỹ tín dụng nhân dân chính là thiết chế tài chính đặc thù giúp kết nối thị trường vốn với khu vực dân cư ở cơ sở.

“Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên nền tảng sở hữu tập thể, quản trị dân chủ và phân phối lợi ích theo mức độ sử dụng dịch vụ. Đây là cơ chế nội sinh giúp giảm bất cân xứng thông tin trong tín dụng nông thôn, nơi các ngân hàng thương mại thường gặp nhiều rủi ro và chi phí giao dịch cao,” ông Lập phân tích.

Nhờ đặc điểm này, QTDND có khả năng đáp ứng nhanh chóng và linh hoạt nhu cầu vốn của hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể và các HTX.

QTDND có khả năng đáp ứng nhanh chóng và linh hoạt nhu cầu vốn của hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể và các HTX.
QTDND có khả năng đáp ứng nhanh chóng và linh hoạt nhu cầu vốn của hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể và các HTX.

Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy QTDND không chỉ đơn thuần cung cấp dịch vụ tài chính, mà còn đóng vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tại xã Hương Sơn, nơi có khu di tích quốc gia đặc biệt Chùa Hương, QTDND địa phương đã trở thành kênh cung ứng vốn quan trọng cho các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch, sản xuất nông nghiệp và các hoạt động thương mại.

Theo ông Vương Đức Lập, mô hình “huy động tại chỗ – cho vay tại chỗ” giúp dòng vốn được giữ lại và luân chuyển trong nội bộ địa phương, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực cho kinh tế cơ sở.

“Quỹ tín dụng nhân dân không chỉ cung ứng tín dụng, mà còn góp phần hình thành chuỗi giá trị dịch vụ – thương mại – nông nghiệp, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương,” ông Lập nói.

Dù đóng vai trò quan trọng, hệ thống QTDND hiện cũng đang đứng trước nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế – xã hội thay đổi nhanh chóng.

Ở cấp cơ sở, các QTDND đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thực tế. Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy, Chủ tịch Hội đồng quản trị QTDND Đại Thành (Vĩnh Long), cho biết việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã trong thời gian qua đã tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với hoạt động của quỹ.

Theo bà Thúy, sau khi địa giới hành chính thay đổi, nhiều quỹ gặp vướng mắc trong việc xác định địa bàn hoạt động, quản lý thành viên và xử lý hồ sơ pháp lý. Thậm chí có tình trạng hai quỹ cùng hoạt động trên một địa bàn mới sau sáp nhập, gây ra sự cạnh tranh không cần thiết.

“Do chưa có hướng dẫn cụ thể cho các địa bàn sau sáp nhập, nhiều quỹ buộc phải thắt chặt quy trình kiểm soát để bảo đảm tuân thủ pháp luật, nhưng điều này cũng khiến người dân tiếp cận vốn chậm hơn,” bà Thúy chia sẻ.

Trước những thách thức trên, các chuyên gia và đại diện các QTDND đều cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm củng cố và nâng cao vai trò của hệ thống này.

Từ góc độ quản lý nhà nước, Bộ Tài chính đang hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026–2030. Trong đó, việc phát triển hệ thống QTDND được xác định là một nội dung quan trọng.

Ở góc độ thực tiễn, đại diện các quỹ cũng đề xuất nhiều giải pháp như nâng cao năng lực quản trị, tăng cường kiểm soát nội bộ, đẩy mạnh chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực.

Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về địa bàn hoạt động sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, cũng như cơ chế phối hợp giữa các quỹ để tránh chồng chéo và cạnh tranh không cần thiết.

Trong giai đoạn tới, nếu được hỗ trợ bằng các cơ chế chính sách phù hợp, nâng cao năng lực quản trị và thích ứng với xu thế chuyển đổi số, hệ thống QTDND hoàn toàn có thể tiếp tục phát huy vai trò là kênh dẫn vốn hiệu quả, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Minh Phương

VnBusiness