Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng khẳng định, đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với ngành tài chính trong năm 2019, nhằm triển khai quyết liệt cải cách hành chính theo Nghị quyết 19-2018/NQ-CP của Chính phủ và đẩy mạnh sắp xếp lại tổ chức bộ máy, biên chế.
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng
Bộ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) trong năm 2018 vừa qua? Đâu là những nét nổi bật, thưa Bộ trưởng?
Cùng với những thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội, kết quả thực hiện các nhiệm vụ tài chính - NSNN trong năm 2018 cũng rất toàn diện và đáng mừng.
Một là, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN và tài chính công năm 2018 đạt kết quả khá toàn diện, đã cơ bản hoàn thành những mục tiêu quan trọng của Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 đối với các nội dung động viên thu NSNN, tỷ trọng chi NSNN cho đầu tư phát triển, bội chi NSNN và nợ công so với GDP.
Ngay từ đầu năm 2018, Bộ Tài chính đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phương án điều hành NSNN theo các kịch bản tăng trưởng kinh tế, nhằm đảm bảo cân đối ngân sách các cấp, giữ bội chi NSNN trong phạm vi dự toán trong mọi tình huống. Đồng thời, có văn bản hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2018 với các giải pháp điều hành chủ động, tích cực.
Triển khai nhiệm vụ thu NSNN năm 2018, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và chính quyền địa phương để làm tốt công tác quản lý thu, chú trọng khai thác nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế (cả đối tượng và địa bàn); đẩy mạnh chống thất thu, buôn lậu, gian lận thương mại; quyết liệt xử lý nợ thuế; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế... Đồng thời chú trọng cải cách hành chính, tạo thuận lợi, giảm thời gian, chi phí cho người nộp thuế.
Công tác điều hành chi NSNN được thực hiện chủ động, tích cực, với phương châm chặt chẽ, tiết kiệm xuyên suốt từ khâu phân bổ dự toán cho đến quá trình thực hiện. Các bộ, ngành và địa phương đã chủ động rà soát, sắp xếp, thực hiện chi, gắn với sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế; thực hiện mua sắm tài sản công theo đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường công khai, minh bạch sử dụng NSNN.
Cùng với kinh tế tăng trưởng cao hơn kế hoạch, kết hợp với các giải pháp đã thực hiện, thu cân đối NSNN năm 2018 vượt 7,8% so dự toán, trong đó thu ngân sách trung ương (NSTW) vượt 4,3%, thu ngân sách địa phương (NSĐP) vượt 12,5%; tỷ lệ động viên đạt khoảng 25,7% GDP, riêng thuế và phí trên 21,1% GDP (mục tiêu giai đoạn 2016-2020 tương ứng là 23,5% GDP và 21% GDP); tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN đạt 80,6% (năm 2015 là 75%). Qua đó đã đảm bảo được các nhiệm vụ chi theo dự toán và có thêm nguồn lực để xử lý các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách phát sinh về đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Cơ cấu chi ngân sách chuyển dịch tích cực, tỷ trọng chi đầu tư phát triển đạt trên 27% (mục tiêu giai đoạn 2016-2020 là 25-26%), tỷ trọng chi thường xuyên giảm còn dưới 62% tổng chi NSNN.
Bội chi NSNN năm 2018 dưới 3,6% GDP (dự toán là 3,7% GDP); nợ công khoảng 61% GDP. Quản lý nợ công có tiến bộ, thời hạn khoản vay tiếp tục được kéo dài, lãi suất theo xu hướng hạ thấp, hạn chế tác động của các rủi ro.
Hai là, thể chế chính sách lĩnh vực tài chính - NSNN tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện
Năm 2018, Bộ Tài chính đã trình Quốc hội cho ý kiến đối với dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi); trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 2 Nghị quyết; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 48/53 đề án (gồm: 25 Nghị định, 10 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 13 đề án khác); ban hành theo thẩm quyền 130 Thông tư, tập trung vào các cơ chế, chính sách, các giải pháp tài chính nhằm tăng cường quản lý thu, chi NSNN chặt chẽ, hiệu quả, tăng cường quản lý sử dụng tài sản công. Đáng chú ý là đã xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành đồng bộ, đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Luật quản lý, sử dụng tài sản công và Luật quản lý nợ công; tạo cơ sở để tổ chức triển khai tốt các Luật này.
Mặc dù khối lượng văn bản được giao chủ trì xây dựng là khá lớn, song với quyết tâm cao, Bộ Tài chính đã hoàn thành nhiệm vụ được giao (trong tổng số 163 nghị định đã được Chính phủ ban hành trong năm 2018, có 31 nghị định do Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo, chiếm gần 20%), cơ bản đáp ứng được yêu cầu đề ra cả về tiến độ và chất lượng. Đồng thời, đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến văn bản, chính sách, chế độ mới; tăng cường đối thoại, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực thuế và hải quan.
Ba là, tiếp tục triển khai quyết liệt cải cách hành chính (CCHC) theo Nghị quyết 19-2018/NQ-CP của Chính phủ; đẩy mạnh sắp xếp lại tổ chức bộ máy, biên chế theo các Nghị quyết số 18, 19-NQ/TW của Hội nghị TW 6 (khóa XII).
Trong năm 2018, Bộ Tài chính đã hoàn thành 85/85 nhiệm vụ CCHC theo kế hoạch đề ra; đã bãi bỏ 18 thủ tục hành chính trong tổng số 166 thủ tục cần rà soát bãi bỏ (chiếm 10,8%) và đơn giản hóa đối với 111 thủ tục trong tổng số 139 thủ tục cần rà soát đơn giản hóa (chiếm 79,9%); thực hiện cắt giảm và đơn giản hóa 117/190 điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý (đạt 61,6%). Đồng thời, tập trung mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin, điện tử hóa trong lĩnh vực thuế, hải quan và kết nối thông tin nộp thuế điện tử với các ngân hàng thương mại; mở rộng thực hiện hoàn thuế điện tử. Đến nay, hệ thống khai thuế qua mạng đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố với 99,92% số doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế qua mạng; 98,41% doanh nghiệp đăng ký tham gia nộp thuế điện tử; hoàn thuế theo phương thức điện tử chiếm tỷ trọng 93,14% tổng số hồ sơ được hoàn thuế. Tổng số dịch vụ công trực tuyến cơ quan hải quan đạt tối thiểu mức độ 3 là 173/183 thủ tục hành chính; đã có 12/14 bộ, ngành tham gia kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia với 145/284 thủ tục hành chính được thực hiện qua cơ chế một cửa quốc gia.
Những nỗ lực nêu trên của ngành tài chính đã nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, góp phần quan trọng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam.
Thực hiện Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đến ngày 31/12/2018, Bộ Tài chính đã thực hiện cắt giảm 4,7% so với chỉ tiêu biên chế được giao. Bên cạnh đó, tích cực triển khai các Nghị quyết số 18, 19 của Hội nghị TW 6 (khóa XII) về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Trong năm 2018, Bộ Tài chính đã cắt giảm được 536 đầu mối, trong đó 5 đơn vị cấp phòng và tương đương thuộc các vụ/cục thuộc cơ quan Bộ; 3 cấp phòng thuộc đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ; 25 đơn vị cấp phòng thuộc cơ quan tổng cục; 67 đơn vị cấp chi cục và tương đương; 436 đơn vị cấp tổ (đội) tại địa phương.
Bốn là, quản lý chặt chẽ giá cả, kiểm soát lạm phát góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô.
Bộ Tài chính đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương quản lý, kiểm soát chặt chẽ giá cả các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu (xăng dầu, than, dịch vụ y tế, giáo dục); tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đăng ký, kê khai giá; xử lý nghiêm các hành vi mua bán, vận chuyển hàng cấm, hàng giả, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; thực hiện bình ổn thị trường trong các dịp lễ, tết..., góp phần thực hiện thành công mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% mà Quốc hội đã đề ra. Năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 3,54%, lạm phát cơ bản bình quân tăng 1,48% so với năm 2017.
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phát triển các thị trường chứng khoán, bảo hiểm và thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán thế giới có nhiều biến động, hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2018 nhìn chung ổn định, quy mô thị trường đến ngày 24/12/2018 đạt khoảng 78% GDP, vượt mục tiêu 70% GDP vào năm 2020; tổng giá trị giao dịch bình quân đạt khoảng 6.603 tỷ đồng/phiên, tăng 30% so với bình quân năm 2017; số lượng tài khoản của nhà đầu tư tiếp tục tăng cao, đạt trên 2,1 triệu tài khoản, tăng 12,8% so với cuối năm 2017.
Hoạt động của thị trường bảo hiểm năm 2018 cũng ghi nhận bước phát triển tốt, với 64 doanh nghiệp đang hoạt động. Tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2018 ước tăng 24%, tổng giá trị tài sản của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tăng 21,1%, vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng 29,5% so với năm 2017.
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các đề án, chính sách về sắp xếp, đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp và 7 nghị định về điều lệ và tổ chức hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty. Đồng thời, đã tích cực phối hợp, đôn đốc với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Năm 2018, có 19 doanh nghiệp được phê duyệt phương án tái cơ cấu, 15 doanh nghiệp được phê duyệt phương án cổ phần hóa; 21 doanh nghiệp thực hiện bán cổ phần lần đầu. Các tập đoàn, tổng công ty đã thực hiện đấu giá cổ phần, thoái vốn thu về cho Nhà nước gần 40 nghìn tỷ đồng.
Sáu là, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công.
Triển khai thực hiện Luật quản lý, sử dụng tài sản công, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành 13 nghị định, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 1 quyết định (đạt 100% kế hoạch) và ban hành 7 thông tư hướng dẫn. Đồng thời, đã tổ chức tập huấn, quán triệt, tuyên truyền phổ biến Luật quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng tài sản công.
Bảy là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính - ngân sách
Bộ Tài chính đã thực hiện 98,66 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra, qua đó kiến nghị: xử lý về tài chính trên 23,14 nghìn tỷ đồng, riêng kiến nghị thu nộp NSNN là 17,94 nghìn tỷ đồng, đã thực hiện thu vào 16,6 nghìn tỷ đồng, bằng 92,5% tổng số kiến nghị; xử phạt vi phạm hành chính 4,2 nghìn tỷ đồng; giảm lỗ 37,4 nghìn tỷ đồng.
Bộ Tài chính cũng đã tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương triển khai đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; đã bắt giữ 15,54 nghìn vụ buôn lậu, gian lận thương mại; thu nộp NSNN khoảng 307 tỷ đồng; cơ quan hải quan đã khởi tố 62 vụ, chuyển cơ quan khác khởi tố 130 vụ; đã bắt giữ 191 vụ vi phạm liên quan đến chất ma túy.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng vẫn còn một số hạn chế, yếu kém cần khắc phục, như: giải ngân vốn đầu tư công chậm; cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp chuyển biến chưa rõ nét; cơ cấu lại nền kinh tế và đầu tư công còn chậm; nợ nước ngoài của quốc gia còn ở mức cao (khoảng 49,7% GDP, sát mức giới hạn 50% GDP); việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật tài chính ở một số đơn vị còn chưa nghiêm; tình trạng thất thoát, lãng phí còn xảy ra ở một số cơ quan, đơn vị...
Với những kỳ vọng được đặt ra, xin Bộ trưởng cho biết ngành tài chính sẽ có giải pháp gì để hoàn thành tốt được các mục tiêu về nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2019, hướng tới hoàn thành kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 - 2020?
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2019, hướng tới phấn đấu hoàn thành kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, Bộ Tài chính sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện có hiệu quả 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.
Một là, tập trung hoàn thiện thể chế theo kế hoạch đã đề ra; thúc đẩy mạnh mẽ cải cách hành chính, hiện đại hóa, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, trọng tâm là lĩnh vực thuế, hải quan, KBNN, góp phần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, khuyến khích khởi nghiệp, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Hai là, điều hành chính sách tài khóa chặt chẽ, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ cấu lại NSNN đã đề ra; quyết liệt công tác thu ngân sách; quản lý, điều hành chi ngân sách theo dự toán, chặt chẽ, tiết kiệm. Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật về thuế theo hướng mở rộng cơ sở thuế, chống xói mòn nguồn thu, cơ cấu lại nguồn thu, tăng cường vai trò chủ đạo của NSTW; phấn đấu tăng thu 5% so với dự toán Quốc hội giao và đạt tỷ lệ động viên ở mức 23,5% GDP. Điều hành chi NSNN theo dự toán, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, tăng cường thực hành tiết kiệm; siết chặt kỷ cương, kỷ luật ngân sách. Kiểm soát chặt chẽ bội chi NSNN và nợ công; đến cuối năm 2019 dư nợ công khoảng 61%GDP.
Ba là, tiếp tục rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, biên chế, hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 18 của Hội nghị TW 6 (khóa XII), Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế hoạt động tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết số 19 của Hội nghị TW 6 (khóa XII), thúc đẩy lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN đã đề ra.
Bốn là, thực hiện quản lý theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, Nhà nước còn định giá, bình ổn giá. Đẩy mạnh triển khai các giải pháp phát triển đồng bộ thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, bảo hiểm; nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính, kế toán, kiểm toán; đẩy mạnh phát triển thị trường phái sinh, trái phiếu doanh nghiệp và các sản phẩm mới.
Năm là, đẩy mạnh tái cấu trúc, cổ phần hóa DNNN theo tinh thần Nghị quyết TW 5 (khóa XII); đẩy mạnh thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng đầu tư, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và công khai, minh bạch hoạt động của doanh nghiệp.
Sáu là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách trong xây dựng pháp luật, thực thi công vụ; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN, tài sản công; thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra, kiểm toán.
Trong điều kiện các nguồn thu ngân sách khó khăn hơn trước, các biện pháp giảm chi sẽ tiếp tục được thực hiện như thế nào trong năm 2019, thưa Bộ trưởng?
Một trong những mục tiêu, nhiệm vụ tài chính - NSNN quan trọng đặt ra cho năm 2019 là tăng cường kỷ luật tài chính - NSNN, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tiếp tục với tinh thần đó, trong năm 2019, Bộ Tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo:
Một là, tổ chức giao dự toán chi NSNN cho các đơn vị sử dụng ngân sách khẩn trương, đảm bảo nguyên tắc:
- Phân bổ, giao dự toán chi đầu tư phát triển nguồn NSNN phải tuân thủ đúng quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn; phân bổ tập trung, chống dàn trải; tập trung đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm quốc gia, các công trình cấp thiết dở dang; ưu tiên đối ứng cho các dự án ODA quan trọng, xử lý nợ đọng và thu hồi vốn ứng trước.
- Phân bổ và giao dự toán chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính đảm bảo khớp đúng dự toán được giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực chi; đảm bảo bố trí đủ kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ đã ban hành, những nhiệm vụ quan trọng theo quy định của pháp luật, những nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
Hai là, trong tổ chức thực hiện chi NSNN: Chỉ được chi trong phạm vi dự toán ngân sách được giao; cơ quan tài chính, KBNN tổ chức điều hành ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt, thực hiện kiểm soát chi chặt chẽ bảo đảm theo đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định.
Thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, giảm mạnh kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết, đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài; bố trí kinh phí mua sắm trang thiết bị chặt chẽ, đúng quy định; đẩy mạnh việc thực hiện khoán sử dụng xe công; không bố trí dự toán chi cho các chính sách chưa ban hành; chỉ ban hành chính sách làm tăng chi NSNN khi thật sự cần thiết và có nguồn bảo đảm. Đồng thời, đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành TW Đảng khóa XII về đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Ba là, tăng cường công tác kiểm soát chi, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán NSNN nghiêm minh. Thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách ở các đơn vị, ngân sách cấp dưới; trên cơ sở đó kịp thời phát hiện, xử lý sai phạm; làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân và thực hiện chế độ trách nhiệm đối với thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách trong quản lý điều hành ngân sách khi để xảy ra thất thoát, lãng phí, sử dụng ngân sách sai chế độ, chính sách. Đồng thời, đẩy mạnh công khai sử dụng NSNN, tài sản công theo quy định của Luật NSNN, Luật quản lý và sử dụng tài sản nhà nước.
Xin Bộ trưởng cho biết những kết quả đạt được trong công tác cải cách hành chính của ngành tài chính trong năm vừa qua, đặc biệt là trong lĩnh vực liên quan nhiều đến người dân như thuế và hải quan?
Xác định công tác cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm triển khai thực hiện nên trong năm qua, ngành tài chính đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu, triển khai thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác cải cách hành chính. Năm 2018 là năm bản lề trong kế hoạch thực hiện 5 năm tài chính - ngân sách và trên cơ sở 6 nhiệm vụ cải cách hành chính, công tác cải cách hành chính đã có những kết quả với nhiều điểm sáng.
Thứ nhất, về cải cách thể chế, trong năm 2018, Bộ Tài chính đã chủ trì soạn thảo trình Quốc hội cho ý kiến đối với 01 Luật (Luật Quản lý thuế) và đang xây dựng dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi), trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 2 Nghị quyết, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 31 Nghị định và 8 Quyết định. Ngoài ra, đã ban hành theo thẩm quyền 150 Thông tư trong lĩnh vực quản lý tài chính - NSNN.
Thứ hai, về cải cách thủ tục hành chính, Bộ Tài chính đã thực hiện bãi bỏ 18 TTHC và đơn giản hóa đối với 111 TTHC thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ. Tiếp tục rà soát, đánh giá toàn bộ 987 TTHC thuộc lĩnh vực tài chính với mục đích hướng tới sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản hóa, công khai, minh bạch TTHC. Trên cơ sở kết quả rà soát, Bộ Tài chính đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 176 TTHC (Quyết định số 2141/QĐ-BTC ngày 14/11/2018). Dự kiến sau khi thực thi toàn bộ các phương án tại Quyết định số 2141/QĐ-BTC, tổng số TTHC thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính sẽ giảm còn 839 thủ tục. Ngoài ra, thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao về triển khai cơ chế một cửa trong giải quyết TTHC, Bộ Tài chính đã ban hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC và đang hoàn thiện Đề án thành lập bộ phận một cửa tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC tại Bộ Tài chính.
Thứ ba, về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính thời gian qua từng bước được hoàn thiện theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Trong năm 2018, Bộ Tài chính đã thực hiện cắt giảm được 536 đầu mối từ các vụ/cục thuộc cơ quan Bộ đến các đơn vị sự nghiệp và các chi cục. Đồng thời, khi thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, gắn với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ngay từ khi có chủ trương sắp xếp lại tổ chức bộ máy cơ quan thuế, Bộ Tài chính đã chỉ đạo dừng việc xây dựng trụ sở làm việc của các cơ quan thuế cấp cục, chi cục, dừng việc bổ nhiệm lãnh đạo cấp chi cục để thực hiện chủ trương hợp nhất, sáp nhập chi cục thuế thành chi cục thuế khu vực.
Thứ tư, về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Bộ Tài chính tiếp tục kiện toàn đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao. Trong năm 2018, Bộ là đơn vị đầu tiên tuyển dụng công chức theo quy định tại Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 5/12/2017 về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ (39 công chức đã được tuyển dụng).
Thứ năm, về cải cách tài chính công, với vai trò là cơ quan tham mưu giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính - ngân sách, Bộ Tài chính đã chủ động xây dựng trình cấp có thẩm quyền về dự toán ngân sách năm 2019, thực hiện phân bổ, sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính - ngân sách. Bộ Tài chính đã tập trung cơ cấu lại thu, chi NSNN, tăng cường quản lý nợ công, bảo đảm an toàn và bền vững nền tài chính quốc gia.
Thứ sáu, về hiện đại hóa hành chính, việc hiện đại hóa hành chính nhất là ứng dụng công nghệ thông tin không những là yêu cầu mà còn là nhiệm vụ cấp bách tạo nền tảng thực hiện hệ thống thông tin quản lý tài chính của Chính phủ. Vì vậy, công tác hiện đại hóa của Bộ Tài chính cũng được triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực tài chính. Trong đó, nổi bật nhất là việc ứng dụng phần mềm quản lý văn bản tại các cơ quan hành chính và việc triển khai cung cấp dịch vụ công. Theo đó, Bộ Tài chính đã triển khai chương trình quản lý văn bản và điều hành ngành tài chính (chương trình eDocTC) tại cơ quan Bộ và một số đơn vị tổng cục, triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với 987 TTHC.
Công tác hiện đại hóa công nghệ thông tin đã rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
Cùng với các kết quả chung về cải cách hành chính, hai lĩnh vực thuế và hải quan cũng đạt được những thành quả, tại Hội nghị công bố báo cáo chỉ số đánh giá chi phí tuân thủ TTHC năm 2018, Hội đồng tư vấn cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ đã công bố báo cáo đánh giá nhóm TTHC thuế đứng thứ nhất, nhóm TTHC hải quan đứng thứ ba trong 8 nhóm TTHC được đưa vào đánh giá. Theo khảo sát của VCCI, có đến 71% người nộp thuế được hỏi hài lòng với kết quả cải cách của cơ quan thuế trong những năm qua.
Trong lĩnh vực thuế, hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc, phối hợp với 50 ngân hàng thương mại đã hoàn thành kết nối nộp thuế điện tử với Tổng cục Thuế và 63 Cục Thuế triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử và tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ. Cụ thể về khai thuế điện tử: Tính đến 31/12/2018 có 697.377 doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt 99,84% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước (số doanh nghiệp hoạt động là 698.481 doanh nghiệp); số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận là trên 56,5 triệu hồ sơ. Về dịch vụ nộp thuế điện tử: Tính đến ngày 31/12/2018, số lượng doanh nghiệp đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan thuế là 685.578 doanh nghiệp trên tổng số 698.481 doanh nghiệp đang hoạt động, đạt tỷ lệ 98,15%. Số lượng doanh nghiệp hoàn thành đăng ký dịch vụ với ngân hàng là 672.609 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 96.30% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, với số tiền đã nộp NSNN từ 1/1/2018 đạt trên 557.697 tỷ đồng với 2.940.678 giao dịch nộp thuế điện tử. Về hoàn thuế điện tử: Tính từ ngày 1/1 - 31/12/2018, tổng số doanh nghiệp tham gia hoàn thuế điện tử là 7.065 DN trên tổng số 8.018 doanh nghiệp hoàn thuế đạt tỷ lệ 88,11%; số hồ sơ tiếp nhận là 20.072 hồ sơ trên tổng số 21.537 hồ sơ đạt tỷ lệ 93,2%; tổng số hồ sơ hệ thống đã giải quyết hoàn là 15.283 hồ sơ với tổng số tiền đã giải quyết hoàn là hơn 85.464 tỷ đồng.
Tiếp tục thực hiện cải cách tổ chức, sắp xếp lại bộ máy hành chính nhà nước với mục tiêu từ nay đến cuối năm 2020 đảm bảo giảm tối thiểu 50% tổng số các chi cục thuế hiện có trong hệ thống cơ quan thuế.
Trong lĩnh vực hải quan, Bộ Tài chính đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 - 2020. Trong năm 2018 tiếp tục sử dụng, khai thác có hiệu quả Hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định nghiệp vụ giai đoạn I; tiếp tục triển khai Đề án nộp thuế điện tử và thông quan 24/7 mở rộng cho các ngân hàng thương mại và các hệ thống công nghệ thông tin khác. Đến nay, Tổng cục Hải quan đã ký kết với 38 ngân hàng thương mại để phối hợp thu thuế điện tử trong đó có 24 ngân hàng phối hợp thu 24/7, số thu chiếm trên 94% tổng số thu ngân sách của hải quan. Về Cơ chế một cửa quốc gia: Tính đến ngày 5/12/2018, 11 Bộ, ngành đã triển khai 136 TTHC trên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia trên 1,66 triệu bộ hồ sơ với trên 25,3 nghìn doanh nghiệp tham gia. Từ tháng 7/2018, đã phối hợp với các bộ, ngành và các đơn vị có liên quan triển khai mở rộng Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi thuộc 24 tỉnh, thành phố với 11 TTHC liên quan đến tàu, thuyền và triển khai 4/4 TTHC thuộc lĩnh cảng thủy nội địa. Từ ngày 15/11/2017, Cơ chế một cửa quốc gia đã được triển khai tại các cảng hàng không quốc tế trên cả nước nhằm đảm bảo tính sẵn sàng của Cổng thông tin một cửa quốc gia phục vụ triển khai chính thức Cơ chế một cửa quốc gia đường hàng không. Đồng thời, phối hợp với các Bộ (Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế) tổ chức triển khai chính thức Cơ chế một cửa quốc gia đường hàng không. Theo đó, cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng hàng không đã được cấp tài khoản và sử dụng Cổng thông tin một cửa quốc gia để tiếp nhận thông tin liên quan đến tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Từ ngày 1/11/2018, triển khai chính thức kết nối hệ thống của Bộ Giao thông Vận tải với Cổng thông tin một cửa quốc gia để nhận dữ liệu hành khách trước chuyến bay.
Đồng thời, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành rà soát, chuẩn hóa danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu kèm mã số HS phù hợp với danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ Tài chính. Tổng cục Hải quan đã ban hành 36 Quyết định quy định cơ cấu tổ chức của các chi cục hải quan, Đội kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương trực thuộc 35 Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Cục Kiểm định Hải quan. Trên cơ sở đó đã cắt giảm được 239 đội (tổ) thuộc chi cục hải quan và đơn vị tương đương, giải thể một số chi cục.
Những kết quả đạt được của Bộ Tài chính trong công tác cải cách hành chính, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế và hải quan đã mang lại nhiều lợi ích, tiết kiệm thời gian, công sức của cá nhân và tổ chức trong việc thực hiện các TTHC. Ứng dụng xây dựng và cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với các lĩnh vực thuộc quản lý của Bộ Tài chính đã hạn chế việc tiếp xúc, gặp gỡ giữa cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước, qua đó loại bỏ thái độ nhũng nhiễu, tư duy cửa quyền của một bộ phận cán bộ trực tiếp giải quyết TTHC, mang lại thuận lợi, sự hài lòng cho cá nhân và tổ chức.
Bước sang năm 2019, Bộ Tài chính sẽ có hành động gì để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập?
Công tác cải cách hành chính luôn được Bộ Tài chính quan tâm chỉ đạo, coi đây là một trong những nội dung quan trọng trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bộ Tài chính đã quyết liệt triển khai cải cách hành chính đồng bộ từ công tác xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật; cải cách TTHC; cải cách bộ máy hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công… tổ chức thực hiện và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực tài chính, đặc biệt trong các lĩnh vực thuế, hải quan và thu được nhiều kết quả tích cực.
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu cải cách ngày càng cao, để nâng cao chất lượng, hiệu quả cải cách hành chính, khắc phục những tồn tại, bất cập của nền hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc hội nhập quốc tế, trong năm 2019, Bộ Tài chính sẽ tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Lãnh đạo, cơ quan, đơn vị trong quán triệt, phổ biến và triển khai các chương trình, kế hoạch cải cách hành TTHC, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính trong việc cải cách TTHC, nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công tác kiểm soát TTHC và giải quyết TTHC; thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng về quan điểm đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và Bộ Tài chính về kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ.
Thứ hai, tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính đối với doanh nghiệp, tập trung vào việc tháo gỡ các rào cản, vướng mắc về chính sách thuế, hải quan, chứng khoán, chế độ kế toán, kiểm toán, thủ tục hành chính trong lĩnh vực Tài chính trên cơ sở đảm bảo tôn trọng quyền tự do kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, ổn định, minh bạch, thông thoáng phù hợp với tinh thần Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi 2018. Rà soát, bổ sung và thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; cho phát triển công nghiệp hỗ trợ; đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn;
Thứ ba, thực hiện rà soát và đề xuất các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính, trong đó tập trung vào nghiên cứu giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính liên quan trực tiếp tới người dân, doanh nghiệp; tổ chức thực thi Nghị quyết số 104/NQ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các TTHC mới, thực hiện nghiêm việc đánh giá tác động, tính toán chi phí tuân thủ của TTHC ngay từ khâu dự thảo, xây dựng văn bản QPPL có quy định TTHC, chỉ ban hành các văn bản QPPL sau khi có đánh giá tác động đảm bảo các tiêu chí: tính cần thiết; tính hợp lý; tính hợp pháp và tính toán chi phí tuân thủ của TTHC theo đúng quy định của Nghị định 63/2010/NĐ-CP và Gắn công tác kiểm soát TTHC với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ năm, tiếp tục nghiên cứu sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi các phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính đã được phê duyệt tại Quyết định số 832/QĐ-BTC ngày 31/5/2018 của Bộ Tài chính; Tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 151/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định về điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính.
Thứ sáu, tập trung thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và hoàn thành cơ bản hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin của ngành, ban hành kiến trúc Chính phủ điện tử theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; công bố, cập nhật danh mục các dịch vụ hành chính công, điều kiện kinh doanh trên cổng thông tin điện tử của Bộ và các cơ quan, đơn vị; phấn đấu 100% TTHC thực hiện các dịch vụ hành chính công trực tuyến mức độ 3 và 4 đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và người dân; đẩy mạnh hiện đại hóa trong quản lý thuế, thực hiện kê khai thuế qua mạng, hải quan điện tử qua hệ thống VNACC và VNCIS, qua đó vừa rút ngắn thời gian kê khai nộp thuế, thời gian làm thủ tục hải quan vừa giảm thiểu quan hệ trực tiếp giữa cán bộ thuế, hải quan với người nộp thuế, người khai hải quan.
Thứ bảy, tăng cường tổ chức đối thoại với doanh nghiệp và các cơ quan báo chí để kịp thời nắm bắt và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhất là về cơ chế chính sách và thủ tục hành chính thuế, hải quan.
Thứ tám, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia trong đó trọng tâm là nâng xếp hạng chỉ số Bảo hiểm xã hội; nâng xếp hạng chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới; nâng xếp hạng chỉ số vốn hóa thị trường chứng khoán bằng việc tiếp tục hoàn thiện Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi để trình Chính phủ, trình Quốc hội xem xét thông qua theo chương trình xây dựng Luật của Quốc hội (dự kiến trình Quốc hội trong năm 2019); Phát triển hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp (startup)
Thứ chín, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn tổ chức, cá nhân nắm bắt kịp thời, đầy đủ các quy định pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ chính sách, pháp luật của người người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức.
Việc tinh giản bộ máy, thu gọn đầu mối cũng là một điểm nhấn của ngành Tài chính trong năm 2018, khi triển khai, Bộ Tài chính đã gặp những khó khăn gì và đã khắc phục như thế nào, thưa Bộ trưởng?
Kết quả sắp xếp, hợp nhất các đơn vị của Bộ Tài chính thời gian qua đã và đang thể hiện quyết tâm cải cách bộ máy, gắn cải cách bộ máy với cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa ngành nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật của ngành tài chính. Tuy nhiên, quá trình thực hiện đổi mới, tinh gọn bộ máy cũng còn một số những khó khăn, thách thức như:
Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy diễn ra trong bối cảnh các văn bản quy định về quản lý bộ máy, biên chế chưa được ban hành đồng bộ. Do đó, việc triển khai của các Bộ, ngành, địa phương có cách thức triển khai khác nhau, chưa có một mô hình mẫu để học tập, rút kinh nghiệm. Vì vậy, là một trong các Bộ đi đầu trong cải cách bộ máy, Bộ Tài chính vừa thực hiện, vừa phải xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền do có một số vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp, dẫn đến quá trình triển khai kéo dài hơn so với dự kiến.
Cán bộ các đơn vị thực hiện sắp xếp, hợp nhất, sáp nhập mặc dù đã được quán triệt, động viên về tư tưởng, tuy nhiên vẫn còn một số cán bộ có tâm tư do việc sắp xếp ảnh hưởng đến vị trí công tác, ảnh hưởng trực tiếp đời sống, sinh hoạt của cán bộ do vấn đề về khoảng cách địa lý, chi phí, rủi ro đi lại... Theo đó, đối với các đơn vị sắp xếp để tổ chức hoạt động theo khu vực liên huyện (sắp xếp, sáp nhập Chi cục Thuế quận, huyện, thị xã, thành phố thành Chi cục Thuế khu vực), Bộ Tài chính đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-BTC ngày 09/5/2018, trong đó chỉ đạo các đơn vị sắp xếp, sáp nhập thực hiện tốt công tác tuyên truyền, kịp thời nắm bắt tư tưởng của công chức và người lao động của đơn vị, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để đảm bảo không gây xáo trộn lớn trong công tác tổ chức, cán bộ, không ảnh hưởng đến thu ngân sách trên địa bàn cũng như ảnh hưởng đến người dân, doanh nghiệp.
Việc sắp xếp các đơn vị được tổ chức theo địa giới hành chính sang tổ chức theo khu vực dẫn đến việc tổ chức đảng của các đơn vị sắp xếp, sáp nhập phải điều chỉnh theo mô hình mới (tổ chức đảng của Chi cục Thuế khu vực chuyển sang trực thuộc Đảng bộ Cục Thuế thay vì cấp ủy cấp huyện như hiện nay) để đảm bảo phù hợp với tình hình mới. Để thuận lợi trong việc triển khai công tác đảng nêu trên, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã gửi thư đến từng đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy xin ý kiến và tạo sự đồng thuận trong việc sắp xếp các đơn vị cũng chuyển tổ chức đảng của các đơn vị thực hiện sắp xếp, sáp nhập. Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đã có văn bản báo cáo Ban Bí thư về việc hướng dẫn chuyển tổ chức đảng của các đơn vị nêu trên để chỉ đạo các đơn vị của ngành tại địa phương thống nhất triển khai thực hiện.
Việc triển khai tinh gọn bộ máy đồng thời với việc tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức và người lao động trong hệ thống liên quan trực tiếp đến công tác quản lý cán bộ. Cùng với việc cắt giảm và xóa bỏ các tổ chức thuộc và trực thuộc thì vị trí lãnh đạo cũng sẽ phải rà soát, cắt giảm. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị sắp xếp, sáp nhập xây dựng tốt phương án bố trí, sắp xếp nhân sự, đảm bảo công khai, minh bạch, tránh gây mất đoàn kết nội bộ; dừng việc bổ nhiệm mới công chức lãnh đạo cấp Chi cục và cấp đội; đối với cấp trưởng ưu tiên bố trí chức danh tương đương, trường hợp không thể bố trí các chức danh tương đương thì xem xét bố trí vị trí cấp phó tại bộ phận phù hợp, được bảo lưu phụ cấp chức vụ theo quy định và được ưu tiên bổ nhiệm cấp trưởng khi đơn vị có nhu cầu; đối với cấp phó tại các đơn vị hợp nhất, sáp nhập khi sắp xếp có thể trước mắt cao hơn so với quy định, khi có cấp phó nghỉ hưu hoặc chuyển công tác không được bổ sung thêm cấp bổ; đồng thời có giải pháp, kế hoạch sắp xếp cấp phó đảm bảo quy định.
Việc sắp xếp, sáp nhập một số Chi cục Thuế cấp huyện thành 01 Chi cục Thuế khu vực dẫn đến địa bàn, đối tượng quản lý của Chi cục Thuế khu vực tương đối lớn trong khi mỗi Chi cục Thuế có 01 Trụ sở chính và 01 con dấu để triển khai nhiệm vụ được giao. Trong thực tế tại địa bàn huyện không đặt Trụ sở chính của Chi cục Thuế khu vực nhưng vẫn cần giải quyết các thủ tục hành chính phát sinh hàng ngày cho người nộp thuế trên địa bàn. Để khắc phục vướng mắc trên, Bộ Tài chính đã đồng ý cho Chi cục Thuế khu vực được sử dụng thêm con dấu ướt (con dấu 2, thứ 3) để triển khai nhiệm vụ. Việc quản lý, sử dụng con dấu ướt tại Chi cục Thuế khu vực dẫn đến phải có cơ chế phân cấp, phân quyền trong thực thi nhiệm vụ. Đây cũng là thách thức cho ngành trong việc quản lý con dấu cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện của những bộ phận được phân cấp, phân quyền. Theo đó, trong thời tới, Bộ Tài chính sẽ phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện chữ ký số trong các hoạt động nghiệp vụ của ngành.
Mặc dù, quá trình đổi mới, tinh gọn bộ máy còn gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng toàn thể công chức, viên chức và người lao động ngành Tài chính đã cố gắng, nỗ lực để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao với kết quả thu ngân sách năm 2018 đạt 107% so dự toán. Cùng với quyết tâm chính trị của toàn ngành, sự chỉ đạo, phối hợp của các cơ quan có liên quan, tôi tin rằng Bộ Tài chính cũng sẽ thực hiện thành công việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế theo đúng chủ trương của Đảng, Chính phủ trong thời gian tới.
Trước những biến động từ chính sách thương mại toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì vị thế là điểm đến đầu tư hấp dẫn nhờ những nền tảng vững chắc. Theo ông Thomas Rooney, Phó Giám đốc Bộ phận Dịch vụ Công nghiệp, Savills Hà Nội, đây là lúc Việt Nam đưa ra được các hướng dẫn rõ ràng, làm rõ quy định về nguồn gốc và tiêu chuẩn hàng hóa để củng cố thêm niềm tin và thúc đẩy đà đầu tư trong thời gian tới.
Hơn 60% dân số sống ở nông thôn, cảnh quan chưa bị thương mại hóa và văn hóa độc bản theo từng vùng tạo nên lợi thế hiếm có. Doanh nghiệp lữ hành khẳng định du lịch nông nghiệp, sinh thái sẽ trở thành động lực tăng trưởng tiếp theo của ngành du lịch.
Trước tình trạng bão lũ liên tiếp gây thiệt hại nặng nề, ngành thủy sản Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi nghề khai thác bằng các giải pháp nuôi trồng thông minh. Các địa phương được khuyến nghị áp dụng vật liệu thân thiện môi trường, cơ cấu vùng nuôi hợp lý, giúp tăng hiệu quả sản xuất và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Người tiêu dùng không còn dễ bị cuốn theo xu hướng ngắn hạn như trước, mà chi tiêu ngày càng có chọn lọc hơn. Họ sẵn sàng trả tiền cho sản phẩm tốt hơn, trải nghiệm tốt hơn và trung thành với những thương hiệu mang lại giá trị thật.
Liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là con đường sống còn để xây dựng thương hiệu gạo Việt. Nhưng để liên kết bền vững, chính sách phải đủ “độ mở” và người cầm lái phải đủ thẩm quyền.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng đánh giá Hiệp định Thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng là một bước tiến về tư duy và chính sách. Đạt thỏa thuận win - win với Hoa Kỳ giúp Việt Nam nâng tầm vị thế trong chuỗi cung ứng và là "cơ hội vàng" thúc đẩy thương mại, mở ra không gian hợp tác mới.
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...