VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Việt Nam

Nhập nguyên liệu để chế biến xuất khẩu: Đáng mừng hay đáng lo?

Nhập nguyên liệu để chế biến xuất khẩu: Đáng mừng hay đáng lo?

Ngành điều có rất nhiều tiềm năng để mở rộng thị trường xuất khẩu nhưng lại thiếu điều nguyên liệu và phải nhập khẩu mỗi ngày mỗi nhiều. Hiện trạng khan hiếm nguồn cung nguyên liệu không chỉ diễn ra với ngành điều mà còn với nhiều ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Điều này không chỉ khiến chúng ta mất đi các cơ hội mà còn đe dọa trực tiếp tới khả năng cạnh tranh, xuất khẩu bền vững.

 

Sau hơn ba thập kỷ phát triển, Việt Nam đã trở thành nước có kim ngạch xuất khẩu (XK) điều nhân số một, chế biến đứng thứ hai và đứng thứ ba thế giới về năng suất và sản lượng. Năm 2016, ngành điều Việt Nam XK 347.000 tấn điều nhân, đạt kim ngạch 2,84 tỷ USD, chế biến trên 50% sản lượng điều của thế giới. 

Song, sản lượng điều trong nước chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu của hơn 300 doanh nghiệp (DN) chế biến XK. Các DN chế biến NK điều nguyên liệu ngày càng tăng từ các nước như Campuchia, Ấn Độ, Bờ Biển Ngà, Tây Phi…

“Ăn đong” nguyên liệu

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, năm 2016, lượng điều hạt nguyên liệu đưa vào chế biến 1,5 triệu tấn, trong đó nhập khẩu (NK) 1.025.000 tấn, mua trong nước 475.000 tấn, chiếm 31,67% nguyên liệu sản xuất năm 2016.

Trong 9 tháng đầu năm 2017, khối lượng hạt điều NK ước đạt 1,13 triệu tấn và 2,22 tỷ USD, tăng 42,5% về khối lượng và 83,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. 

Ông Lê Văn Liền, chuyên gia phân tích thị trường, cho biết Việt Nam tiếp tục là quốc gia XK điều lớn nhất thế giới, với sản lượng XK 313.000 tấn. Tuy vậy, Việt Nam mới chỉ tham gia vào khâu chế biến sơ, tương đương 18% chuỗi giá trị điều. Phần lợi nhuận lớn nhất vẫn nằm ở khâu chế biến rang muối và phân phối với tổng giá trị gần 60%. 

“Nguyên nhân khiến ngành điều rơi vào tình trạng trên là do diện tích trồng giảm, làm hạn chế khả năng tăng sản lượng, đặc biệt trong bối cảnh các DN chế biến điều đang trong tình trạng thiếu nguyên liệu và phải NK điều thô từ các nước khác”, ông Liền nói.

Trên thực tế, ngành điều Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào điều thô NK từ các quốc gia khác như các nước Tây Phi, Campuchia. Tỷ lệ điều thô NK có xu hướng tăng từ các năm 2007 – 2014; với tỷ lệ điều thô NK năm 2007 là 39%, trong khi đến năm 2014, tỷ lệ này là 62,5%.

Trong khi đó, giá điều thô thế giới biến động nhiều và tỷ giá VND/USD cũng biến động mạnh những năm gần đây, gây khó khăn cho các DN chế biến điều Việt Nam. Thử thách trở nên lớn hơn khi Việt Nam là quốc gia XK điều lớn nhất thế giới. Sự bấp bênh trong nguồn cung điều thô tiềm ẩn những tổn thất cho ngành điều Việt Nam.
Nhu cầu lớn thế nhưng người nông dân lại không mở rộng diện tích gieo trồng vì đất đai cằn cỗi, năng suất điều thấp. Thực tế này diễn ra ngay tại “thủ phủ” của ngành điều là tỉnh Bình Phước. 

Bình Phước hiện có diện tích trồng điều là 180.000ha (cả nước có 300.000ha điều), năng suất trung bình 1,2 tấn/ha (cả nước trung bình là 1,35 tấn/ha). Đáng buồn là 80% điều tại tỉnh này được người dân trồng hạt từ vụ này qua vụ khác, không qua chọn lọc giống. Tỷ lệ cây già cỗi trên 20 năm đang chiếm khoảng 30% số diện tích điều tại Bình Phước. Đây cũng là thực trạng diễn ra tại nhiều tỉnh khác trên cả nước.

Ngoài ra, nhiều diện tích điều bị thoái hóa hoặc bị chuyển đổi sang trồng các cây khác như cao su, cà phê, hồ tiêu… có hiệu quả kinh tế cao hơn, hoặc chuyển sang mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp. 

Theo các chuyên gia, không còn cách nào khác, để thoát khỏi tình trạng trên, ngành điều cần áp dụng đồng bộ khoa học công nghệ trong canh tác tiên tiến. 

VnBusiness

Nhập khẩu điều “tăng trưởng” theo từng năm

Giảm tính cạnh tranh

Đáng lo hơn, câu chuyện phụ thuộc nguyên liệu của ngành điều không phải là duy nhất, mà thực tế này đang trở thành nỗi lo của nhiều ngành XK chủ lực của Việt Nam hiện nay. 

Cụ thể, theo Bộ NN&PTNT, giá trị NK nông, lâm, thủy sản trong 9 tháng đầu năm 2017 đạt 21,15 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, ước tính NK các mặt hàng nông sản chính đạt 16,51 tỷ USD, tăng khoảng 28% so với cùng kỳ năm 2016. 

Cụ thể, về gỗ và sản phẩm gỗ, tổng giá trị NK gỗ và các sản phẩm gỗ 9 tháng đầu năm 2017 đạt 1,62 tỷ USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm 2016, trong khi kim ngạch XK gỗ 9 tháng đầu năm 2017 đạt 5,51 tỷ USD. Như vậy, trong 5,51 tỷ USD XK, ngành gỗ phải chi 1,62 tỷ USD để NK nguyên liệu. 

Tương tự, ước khối lượng NK cao su trong 9 tháng đầu năm 2017 hơn 398.000 tấn và 813 triệu USD, tăng 31,6% về khối lượng và 75,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016, trong khi khối lượng XK cao su 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 979.000 tấn và 1,66 tỷ USD. Tính ra, XK đạt 1,66 tỷ USD nhưng phải chi 813 triệu USD NK nguyên liệu. 

Nhập khẩu mặt hàng thủy sản 9 tháng đầu năm 2017 đạt 1,04 tỷ USD, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường NK thủy sản lớn nhất trong 8 tháng đầu năm 2017 là Ấn Độ (chiếm 28% thị phần), tiếp đến là Trung Quốc, Na Uy, Đài Loan và Nhật Bản với thị phần tương ứng là 8,5%, 7,7%, 6,8% và 5,4%. 

Giá trị NK mặt hàng rau quả 9 tháng đầu năm 2017 lên đến 1,15 tỷ USD, tăng 78,2% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, mặt hàng rau NK ước 218 triệu USD, tăng 30,1% so với cùng kỳ 2016 và mặt hàng quả ước 914 triệu USD, tăng gần hai lần so với cùng kỳ năm 2016.

Trước đó, câu chuyện Việt Nam vốn là xứ sở của dừa nhưng đang tính phải NK mặt hàng này cũng khiến dư luận không khỏi băn khoăn. Nguyên do là trong khi nhiều nông dân tại Bến Tre đang tính chuyện bỏ cây dừa do năng suất và giá dừa đều giảm, nhiều DN chế biến dừa lại phải NK dừa về chế biến vì thiếu nguyên liệu. 

Các chuyên gia cảnh báo, việc các mặt hàng XK chủ lực phải phụ thuộc nguyên liệu NK sẽ làm mất lợi thế cạnh tranh của hàng hóa XK của Việt Nam trên thị trường thế giới, thậm chí XK sẽ lâm vào tình cảnh bấp bênh nếu nguồn cung nguyên liệu khan hiếm. 

Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn cho rằng đang có rất nhiều mặt hàng nhập nguyên liệu về, chế biến để XK đi. Nhưng như vậy, không có nghĩa là chúng ta kém.

“Có lẽ chúng ta nên biến thành trung tâm chế biến nông sản thì hơn. Chẳng hạn, NK dừa để chế biến XK thì thật quá xuất sắc”, ông Tuấn nêu quan điểm.

Điều ông Tuấn băn khoăn nhất không phải là NK bao nhiêu nguyên liệu mà cách Việt Nam chế biến các nguyên liệu đó như thế nào. “Các DN cần phải chế biến sâu các sản phẩm XK mà không chỉ dừng ở việc NK nguyên liệu thô nhưng vẫn chế biến theo kiểu thô với giá trị gia tăng thấp”, ông Tuấn nói.

Lê Thúy 

Ông Nguyễn Trung Kiên - Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn

Việt Nam đang tăng phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu thô NK cho chế biến – XK nông lâm thủy sản, khiến các động lực tăng trưởng của nông nghiệp Việt trở nên suy yếu. Tỷ trọng NK nguyên liệu thô nông sản trên tổng NK hàng hóa có khuynh hướng tăng, trái ngược khuynh hướng giảm tại các nước Đông Nam Á. Năm 2016, giá trị NK trên giá trị XK của hạt điều là 58%, cao su là 41%, thủy sản là 16% và đang trong khuynh hướng tăng.

Ông Nguyễn Tôn Quyền - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES)

Ngành điều đang phải đối mặt với ba thách thức lớn là nguyên liệu, chế biến và tiếp cận thị trường. Trong đó, quan trọng nhất là khâu sản xuất nguyên liệu. Chúng ta phải dồn toàn lực cho sản xuất nguyên liệu vì nút thắt ngành điều nằm ở đây. Nếu không tập trung vào khâu này, cả ngành điều sẽ khó phát triển.

Ông Nguyễn Xuân Cường - Bộ trưởng Bộ NN&PTNT

Ngành chế biến và XK gỗ Việt Nam sử dụng 30 triệu m3 gỗ nguyên liệu để sản xuất, XK đến hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhưng trong đó, nguồn gỗ từ rừng trồng trong nước và từ các vườn cao su thanh lý chỉ cung cấp được 20 triệu m3, 10 triệu m3 còn lại phải NK từ các nước


 

}
VnBusiness