Đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạc Dương phát triển nông nghiệp hiện đại (Bài cuối): Đẩy mạnh phát triển HTX và doanh nghiệp
Chọn cỡ chữ
Đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạc Dương phát triển nông nghiệp hiện đại (Bài cuối): Đẩy mạnh phát triển HTX và doanh nghiệp
Việc phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, công nghệ cao là định hướng được huyện Lạc Dương hướng tới. Do vậy, nhiệm vụ phát triển HTX, thu hút doanh nghiệp cần đặt lên hàng đầu, đặc biệt tập trung vào vùng đặc biệt khó khăn với phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo thống kê, toàn huyện Lạc Dương có hàng nghìn ha trồng rau hoa bền vững, bà con nông dân các dân tộc đang đẩy mạnh mở rộng cả về chủng loại sản phẩm và diện tích cây trồng.
Hỗ trợ thiết thực cho đồng bào dân tộc
Với vị thế là địa phương được hưởng cơ chế đặc thù, là vệ tinh sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của TP Đà Lạt, được gắn thương hiệu “Đà Lạt kết tinh kỳ diệu từ đất lành”, những năm gần đây, ngành nông nghiệp huyện Lạc Dương đã tập trung áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra những bước chuyển biến tích cực về năng suất, chất lượng và quy mô canh tác, đa dạng sản phẩm cây trồng đặc trưng, đạt tiêu chuẩn sạch trên thị trường trong nước và quốc tế.
Diện mạo sản xuất nông nghiệp ở huyện Lạc Dương.
Hiện nay, Lạc Dương có gần 930 ha sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, đạt thu nhập bình quân 300 triệu đồng/ha/năm. Nếu chỉ tính riêng thu nhập trồng rau sạch trong nhà kính ở huyện Lạc Dương mỗi ha đạt từ 500 - 800 triệu đồng/năm. Không những thế, huyện Lạc Dương còn có điều kiện vô cùng thuận lợi về khí hậu, thổ nhưỡng để sản xuất các loại hoa cao cấp trong nhà kính, với doanh thu đạt từ 800 triệu - 1 tỷ đồng/ha/năm.
So sánh với cả nước, giá trị sản xuất thu nhập bình quân chung trên một diện tích đất sản xuất của huyện Lạc Dương cao hơn gấp 3 lần. So với các vùng rau, hoa nổi tiếng của Lâm Đồng như Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương là huyện có tốc độ phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhanh, nguồn lực sản lượng đầu ra nông sản khá lớn.
Với đặc thù là huyện miền núi, tập trung đa phần là đồng bào dân tộc thiểu số, lãnh đạo huyện Lạc Dương cho biết, kết quả trên có được là nhờ vào công tác phối hợp với doanh nghiệp (DN) để mở lớp đào tạo trình độ kỹ thuật canh tác cho bà con dân tộc thiểu số trên địa bàn. Nhờ công tác đào tạo nghề mà DN có nhân công, bà con có việc làm, biết cách sản xuất hiệu quả trên diện tích đất, tư tưởng sản xuất thay đổi nhiều.
Cụ thể, ông Sử Thanh Hoài, Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương cho biết, huyện đẩy mạnh xây dựng mô hình thí điểm, cung cấp giống, vật tư, bao tiêu sản phẩm cho bà con dân tộc thiểu số để thu hút người dân tham gia. Những hỗ trợ về lợi ích không phải trên lý thuyết, mà ngay trên thực tế để bà con thấy.
"Đơn cử, ở chương trình đào tạo nghề, chúng tôi đã cắt bớt phần lý thuyết, mời DN tham gia đào tạo. Sau đó, chính DN là người liên kết trực tiếp với nông dân thông qua HTX", ông Hoài nhấn mạnh.
Để hướng tới một nền nông nghiệp sạch như mong muốn, huyện Lạc Dương sẽ tiếp tục nâng cao năng lực cho DN, HTX và nông hộ trong việc chuyển giao, nhân rộng quy trình kỹ thuật canh tác không hóa chất, xây dựng các chuỗi sản xuất nông sản gắn với thị trường tiêu thụ ổn định và bền vững. Từ đó hình thành các vùng sản xuất nông sản sạch tập trung gắn với du lịch canh nông.
Hình thành chuỗi liên kết
Việc phát triển HTX, DN là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới của huyện Lạc Dương nói riêng cũng như toàn tỉnh Lâm Đồng. Ông Bùi Quang Tùng, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lâm Đồng cho biết, tỉnh đặt mục tiêu mỗi năm phát triển mới ít nhất 20 tổ hợp tác, 37 HTX; tỷ lệ 70% HTX trở lên hoạt động hiệu quả, không còn mô hình HTX tồn tại hình thức; so với năm trước, số thành viên mới và doanh thu bình quân tăng 10% trở lên.
Khuyến khích DN đầu tư vào vùng sâu, vùng xa để liên kết với HTX và bà con dân tộc.
Theo ông Tùng, để đạt mục tiêu nói trên, trước hết cần thống nhất tư tưởng và nhận thức, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; triển khai kịp thời, sáng tạo, hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác (KTHT), HTX. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục người dân tham gia HTX để tăng quy mô thành viên, quy mô sản xuất kinh doanh, thành lập mới mô hình HTX quy mô cấp huyện.
Tiếp theo phải nâng cao hiệu quả chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên; tăng cường công tác vận động phát triển thành viên. Đẩy mạnh xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX sản xuất gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung ứng dịch vụ công, đáp ứng tối đa nhu cầu phát triển của khu vực KTHT, HTX.
Theo đó, Liên minh HTX tỉnh Lâm Đồng sẽ nâng cao năng lực hợp tác quốc tế để học tập kinh nghiệm, khai thác nguồn lực phát triển KTHT, HTX. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua phát triển KTHT. Đổi mới phương thức, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các HTX để nắm bắt tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất UBND tỉnh Lâm Đồng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, giúp HTX không ngừng phát triển đi lên.
Ông Phạm S. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cũng khẳng định, trong thời gian tới, tỉnh chỉ đạo Sở NN&PTNT, Ban Dân tộc rà soát các điều kiện để phân loại nhóm hộ dân tộc, trên cơ sở đó xác định cây trồng và vật nuôi để chuyển đổi. Nâng cao năng lực hoạt động của DN, trang trại, đồng thời tập huấn, tuyên truyền để đồng bào biết tới việc liên kết thông qua thành lập HTX, tổ hợp tác, từ đó kết nối trực tiếp tới DN.
Đặc biệt, tỉnh sẽ hỗ trợ chính sách về nguồn vốn, canh tác nông nghiệp bền vững, nâng cao nhận thức của bà con ở vùng đặc biệt khó khăn. Hỗ trợ phát triển dự án nông thôn miền núi, xác định mô hình mẫu. Khuyến khích DN đầu tư vào vùng sâu, vùng xa để liên kết với bà con dân tộc. "Bà con chỉ đảm nhiệm việc sản xuất theo đúng chuẩn yêu cầu mà DN đặt ra, còn thị trường đã có DN lo", ông Phạm S. nhấn mạnh.
Từ những vườn sầu riêng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk, yêu cầu tổ chức lại sản xuất đang trở nên cấp thiết. Ở đó, HTX trở thành điểm tựa hoàn thiện sản xuất, giảm nguy cơ bị ép giá và từng bước đưa nông sản địa phương tiến sâu vào chuỗi giá trị.
Sau 5 năm triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (thường gọi là Chương trình 1719, và nay đã được tích hợp) đã tạo nền tảng quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Thiếu mặt bằng sản xuất, khó đáp ứng điều kiện vay vốn, chưa rõ cơ chế bảo vệ quyền lợi khi tham gia chuỗi liên kết đang là những nút thắt khiến nhiều HTX vùng dân tộc thiểu số và miền núi khó mở rộng quy mô.
Ở vùng núi cao Yên Minh, tỉnh Tuyên Quang, nơi địa hình hiểm trở, đất canh tác kém màu mỡ và điều kiện sản xuất còn nhiều hạn chế, Hà Văn Ngọc, chàng trai dân tộc Tày ở thôn Bản Ké, đã chọn phát triển cây ớt gió để tạo sinh kế.
Trong bối cảnh vẫn còn những đánh giá vai trò HTX chưa đúng mức, chính những thành quả cụ thể từ cơ sở – nơi người dân có việc làm, có thu nhập và gắn bó với sản xuất – đã trở thành minh chứng thuyết phục nhất. Thực tiễn không chỉ phản bác mà còn củng cố nền tảng niềm tin xã hội.
Từng là một trong những huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu, nhưng những năm gần đây, Nậm Nhùn đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ triển khai hàng loạt mô hình kinh tế liên kết tại các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Bộ Công Thương đề xuất sớm áp dụng biểu giá điện sinh hoạt 5 bậc thay cho 6 bậc hiện hành. Theo tính toán sơ bộ, khoảng 94% khách hàng có thể giảm tiền điện, trong khi những hộ tiêu thụ trên 778 kWh/tháng sẽ phải trả nhiều hơn.
Giữa núi rừng của tỉnh Lai Châu, cây sâm bản địa đang mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân vùng cao. Thông qua bảo tồn giống, tổ chức sản xuất và chuyển giao kỹ thuật, HTX Bảo tồn và Phát triển giống Sâm núi Lai Châu từng bước tạo việc...