Chuyển hướng sản xuất nông nghiệp ở Đơn Dương (Bài cuối): Hướng đi bền vững để đồng bào thoát nghèo
Chọn cỡ chữ
Chuyển hướng sản xuất nông nghiệp ở Đơn Dương (Bài cuối): Hướng đi bền vững để đồng bào thoát nghèo
Thay đổi tư duy tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là việc làm không phải dễ dàng, dễ thay đổi ngày một ngày hai, vì bà con đã quen với tư duy sản xuất tự cung tự cấp, làm theo kinh nghiệm bản thân. Do đó, muốn xoá đói giảm nghèo, huyện Đơn Dương xác định, địa phương phải đồng hành, hỗ trợ, giúp đỡ người dân, cũng như phải có định hướng dài hạn cho việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp.
Huyện Đơn Dương là địa phương được tỉnh Lâm Đồng chọn làm điểm xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng thông minh. Với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, thông qua hình thức tuyên truyền, vận động, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất đến từng địa bàn, đến nay, chương trình này đã có những bước phát triển vượt bậc.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo
Thống kê cho thấy, Đơn Dương có hơn 6.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, chiếm 31% dân số toàn huyện. Những năm qua, huyện Đơn Dương đã tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều địa phương đã có đột phá trong công tác giảm nghèo.
Đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm xuống 0,41%.
Ông Ka Sung, Trưởng Phòng dân tộc huyện Đơn Dương (Lâm Đồng) chia sẻ, từ những hiệu quả sản xuất nông nghiệp áp dụng công nghệ cao, đời sống đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện ngày càng phát triển đồng bộ, bộ mặt nông thôn khang trang.
Theo số liệu thống kê của Phòng Dân tộc huyện, đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm nhanh, còn 0,41%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 0,84% với 54 hộ. Riêng các xã Quảng Lập, Ka Đô, Lạc Lâm và thị trấn Thạnh Mỹ đến nay không còn hộ nghèo.
Bắt tay vào xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, huyện Đơn Dương đã tập trung các nguồn vốn để đầu tư nâng cấp nhiều tuyến đường, trục giao thông liên xã, thôn, tạo thuận tiện trong giao thương, phát triển liên kết vùng.
Đặc biệt, thực hiện nông nghiệp công nghệ cao, địa phương tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng, diện tích canh tác kém hiệu quả sang sản xuất cây rau thương phẩm. Tổng diện tích sản xuất rau, hoa ứng dụng công nghệ cao hiện nay là 10.512 ha/11.763ha đất canh tác rau, hoa toàn huyện (chiếm 89,4%), trong đó diện tích nhà kính, lưới là 2.330 ha; tưới tự động, nhỏ giọt ngoài nhà kính, lưới 8.100 ha.
Đến nay, 100% số xã trên địa bàn huyện Đơn Dương đã được UBND tỉnh Lâm Đồng công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 4 xã Lạc Xuân, Lạc Lâm, Ka Đô, Quảng Lập thực hiện kế hoạch xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu.
Tuy nhiên, xác định công tác xây dựng nông thôn mới là không có điểm dừng, chính quyền các cấp của huyện Đơn Dương tiếp tục có những chính sách, giải pháp để nâng “chất” tiêu chí, trong đó chú trọng phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, với sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là HTX, tổ hợp tác.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
Nhìn lại thời gian qua, ông Dương Đức Đại, Chủ tịch UBND huyện Đơn Dương đánh giá, huyện đã có nhiều chính sách, đề án để tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, ưu tiên nguồn vốn sự nghiệp hỗ trợ cho các dự án phát triển theo chuỗi giá trị, các chủ thể là các HTX tham gia phát triển sản phẩm. Đồng thời, hỗ trợ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm, xây dựng dữ liệu sản phẩm, thực hiện truy xuất nguồn gốc... Từ đó, chương trình đã tạo ra những tín hiệu tích cực, trở thành động lực để phát triển kinh tế vùng nông thôn, tạo ra những sản phẩm theo chuỗi giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Trong thời gian tới, huyện sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, quan tâm đến phát triển tổ chức sản xuất, hỗ trợ các dự án phát triển theo chuỗi liên kết; đẩy mạnh phát triển gắn kết với chuỗi sản phẩm OCOP là giải pháp nhằm tiêu thụ và nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm.
"Mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững của huyện Đơn Dương là tập trung tăng trưởng sản xuất thông qua cải thiện năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đây là xu hướng tất yếu về phát triển nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế", ông Đại khẳng định.
Theo đó, Đảng bộ huyện Đơn Dương đã ban hành 2 Nghị quyết về tập trung nguồn lực để xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Huyện sẽ tiếp tục tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao theo hướng thông minh, phát triển các mô hình liên kết sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phát triển kinh tế hợp tác, phát triển doanh nghiệp, liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp thông minh.
Đồng thời, tập trung đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn và nguồn nhân lực có chất lượng cao để chủ động trong quá trình tiếp cận nông nghiệp 4.0.
Năm 2020, huyện Đơn Dương cũng vận động, khuyến khích bà con dân tộc thành lập HTX, tổ hợp tác nông nghiệp, đăng ký tiêu chuẩn rau VietGAP để tiến tới đăng ký thương hiệu "Đà Lạt kết tinh kỳ diệu từ đất lành". Đồng thời, tổ chức quảng bá và sử dụng thương hiệu "Đà Lạt kết tinh kỳ diệu từ đất lành" để thị trường biết đến nhằm giúp tiêu thụ nông sản ổn định.
Theo ông Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, làm nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi điều đầu tiên là đào tạo nguồn nhân lực - chính những người nông dân, cán bộ quản lý, HTX, doanh nghiệp. Có như vậy mọi thành phần tham gia phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ mới hiểu đúng, hiểu sâu về cách sản xuất mới này, đảm bảo chuỗi khép kín về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
Từ những vườn sầu riêng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk, yêu cầu tổ chức lại sản xuất đang trở nên cấp thiết. Ở đó, HTX trở thành điểm tựa hoàn thiện sản xuất, giảm nguy cơ bị ép giá và từng bước đưa nông sản địa phương tiến sâu vào chuỗi giá trị.
Sau 5 năm triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (thường gọi là Chương trình 1719, và nay đã được tích hợp) đã tạo nền tảng quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Thiếu mặt bằng sản xuất, khó đáp ứng điều kiện vay vốn, chưa rõ cơ chế bảo vệ quyền lợi khi tham gia chuỗi liên kết đang là những nút thắt khiến nhiều HTX vùng dân tộc thiểu số và miền núi khó mở rộng quy mô.
Ở vùng núi cao Yên Minh, tỉnh Tuyên Quang, nơi địa hình hiểm trở, đất canh tác kém màu mỡ và điều kiện sản xuất còn nhiều hạn chế, Hà Văn Ngọc, chàng trai dân tộc Tày ở thôn Bản Ké, đã chọn phát triển cây ớt gió để tạo sinh kế.
Trong bối cảnh vẫn còn những đánh giá vai trò HTX chưa đúng mức, chính những thành quả cụ thể từ cơ sở – nơi người dân có việc làm, có thu nhập và gắn bó với sản xuất – đã trở thành minh chứng thuyết phục nhất. Thực tiễn không chỉ phản bác mà còn củng cố nền tảng niềm tin xã hội.
Từng là một trong những huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu, nhưng những năm gần đây, Nậm Nhùn đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ triển khai hàng loạt mô hình kinh tế liên kết tại các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Bộ Công Thương đề xuất sớm áp dụng biểu giá điện sinh hoạt 5 bậc thay cho 6 bậc hiện hành. Theo tính toán sơ bộ, khoảng 94% khách hàng có thể giảm tiền điện, trong khi những hộ tiêu thụ trên 778 kWh/tháng sẽ phải trả nhiều hơn.
Giữa núi rừng của tỉnh Lai Châu, cây sâm bản địa đang mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân vùng cao. Thông qua bảo tồn giống, tổ chức sản xuất và chuyển giao kỹ thuật, HTX Bảo tồn và Phát triển giống Sâm núi Lai Châu từng bước tạo việc...