Chuyển hướng sản xuất nông nghiệp ở Đơn Dương (Bài 1): Người Chu Ru thay đổi tập quán canh tác
Chọn cỡ chữ
Chuyển hướng sản xuất nông nghiệp ở Đơn Dương (Bài 1): Người Chu Ru thay đổi tập quán canh tác
LTS: Những năm trước, đời sống bà con dân tộc Chu Ru ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng chủ yếu dựa vào cây lúa, cây ngô, chỉ mong đủ bữa qua ngày, không dám mơ tới chuyện làm giàu. Thế nhưng đến nay, mọi chuyện đã khác, hầu hết hộ đồng bào Chu Ru có cuộc sống ổn định, nhà cửa khang trang, kinh tế khá giả. Có được kết quả này là nhờ chính sách đúng đắn của tỉnh Lâm Đồng và huyện Đơn Dương trong việc triển khai mô hình ứng dụng công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp sạch theo hướng bền vững.
Nhiều hộ gia đình đồng bào Chu Ru đã thay đổi tập quán canh tác, nói không với thuốc trừ sâu và phân bón hóa học. Đặc biệt, người Chu Ru còn phát triển các mô hình kinh tế hợp tác để liên kết sản xuất, đảm bảo tiêu thụ đầu ra của hàng hóa.
Ứng dụng công nghệ cao
Bà Touneh Mabio, xã Lạc Xuân (Đơn Dương, Lâm Đồng) chia sẻ, nhờ chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, người dân tộc Chu Ru được đi học các mô hình của đồng bào Kinh anh em về cách sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, sau đó về áp dụng làm.
"Nhà tôi đã làm nhà kính trồng rau sạch, bán được giá ổn định. Trước đây, trồng theo mô hình canh tác cũ, rau quả bán rất rẻ, thậm chí có thời điểm phải đổ đi", bà Touneh Mabio nói.
Nhiều hộ gia đình của đồng bào Chu Ru đã thay đổi tập quán canh tác, nói không với thuốc trừ sâu, phân bón hóa học.
Gia đình ông Già Lốc có hơn 2ha đất trồng rau được áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật theo tiêu chuẩn VietGAP, thu nhập gần 700 triệu đồng/năm.
Ông Touneh Ya Luock, xã Lạc Xuân (Đơn Dương, Lâm Đồng) cho biết, hồi xưa sản xuất nông nghiệp theo canh tác cũ, rất tốn phân, thuốc, ngày công lại nhiều. Bây giờ sản xuất theo nông nghiệp công nghệ cao, có nhà lưới, năng suất cao, giá cả ổn định. Nhờ thế, bà con Chu Ru yên tâm làm ăn phát triển kinh tế nông nghiệp nhiều hơn.
Từ việc thay đổi trong tư duy sản xuất, chỉ trong 10 năm, vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đơn Dương nói chung và đồng bào dân tộc Chu Ru nói riêng đã chuyển biến tích cực. Đến nay, gần 90% diện tích sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số áp dụng công nghệ cao vào canh tác, thu nhập bình quân trên đơn vị diện tích 150 triệu đồng/ha, có hộ 300 triệu đồng/ha một năm.
Thu nhập tăng lên đồng nghĩa với việc người dân có cuộc sống khấm khá hơn, thoát khỏi cảnh đói nghèo. Trong đó, xã Tu Tra là địa phương được huyện Đơn Dương đánh giá thực hiện tốt công tác giảm nghèo trong nhiều năm nay.
Trước đây, gia đình anh Ya Íp (người Chu Ru) tại thôn Hawai thuộc diện hộ nghèo của xã Tu Tra. Cuộc sống của cả gia đình dựa vào nguồn thu nhập bấp bênh từ mấy sào đất trồng rau củ khiến gia đình anh luôn luẩn quẩn trong cái nghèo.
Để giúp gia đình anh Ya Íp thoát nghèo, địa phương đã quan tâm, hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, hướng dẫn áp dụng công nghệ khoa học vào sản xuất. Từ những nỗ lực của bản thân cùng sự quan tâm kịp thời của địa phương, với 7 sào cà chua và bí, gia đình anh đến nay đã thoát nghèo, cuộc sống dần ổn định hơn, con cái cũng được ăn học đến nơi, đến chốn.
“Nhờ địa phương quan tâm, giúp đỡ, gia đình tôi có thêm động lực làm ăn, cuộc sống nay cũng đỡ vất vả hơn nhiều”, anh Ya Íp hồ hởi nói.
Phát triển mô hình HTX
Theo bà Lê Thị Hồng Nhung, Phó Chủ tịch UBND xã Tu Tra, để giúp người dân thoát nghèo bền vững, địa phương tập trung huy động mọi nguồn lực, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào những thôn, hộ nghèo có khả năng thoát nghèo; chú trọng đến hỗ trợ việc làm, tăng thu nhập, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nâng cao trình độ dân trí, đảm bảo tính hiệu quả các chương trình.
Xây dựng vùng nguyên liệu lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp.
“Xã Tu Tra thoát nghèo bền vững một phần nhờ thu hút được các doanh nghiệp, công ty về địa phương. Hiện, xã có 16 doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động sản xuất, kinh doanh, 4 HTX và 2 tổ hợp tác sản xuất. Qua đó, giúp tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người dân thoát nghèo”, bà Nhung cho hay.
Đơn cử như HTX Bò sữa Đơn Dương nhiều năm đã trở thành địa chỉ tin cậy với bà con dân tộc tại xã Tu Tra và xã Đạ Ròn. Được biết, HTX đầu đã đầu tư 2 trạm thu mua sữa tại đây. Kết quả doanh thu HTX đạt hơn 6 tỷ đồng/năm, trừ mọi chi phí còn đạt lợi nhuận hơn 1,6 tỷ đồng.
Giám đốc Phạm Văn Trị cho biết, HTX Bò sữa Đơn Dương sẽ tiếp tục xây dựng, đưa vào hoạt động phân xưởng chế biến sản phẩm phô mai các loại. Mục tiêu chính nhằm giải quyết một phần lượng sữa nguyên liệu tại địa phương, khuyến khích nông hộ thành viên phát triển chăn nuôi, tăng thêm nguồn thu, nâng cao giá trị thương hiệu và vị thế mới của HTX, tạo việc làm, thu nhập cho thành viên.
Tương tự, được thành lập năm 2018, đến nay HTX Dược liệu Như Ý ở xã Đạ Ròn cũng đã liên kết, hỗ trợ bà con người dân tộc ở huyện Đơn Dương trong việc cung cấp giống, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ sản phẩm các cây dược liệu với mức giá ổn định, đạt lợi nhuận khá hàng năm.
Trong năm vừa qua, HTX Dược liệu Như Ý đã bao tiêu hơn 40 tấn sản phẩm dược liệu VietGAP của hộ liên kết đưa về chế biến tại nhà xưởng diện tích hơn 400 m2, với hệ thống dây chuyền thiết bị máy móc tự động sấy trà, sao trà, đóng túi lọc... theo tiêu chuẩn HACCP, cung cấp các dòng sản phẩm cho đối tác theo hợp đồng như: trà đương quy túi lọc, rượu đương quy Như Ý, cao hà thủ ô mật ong..., đạt doanh thu 8 tỷ đồng. Đến nay, các dòng sản phẩm cung ứng ra thị trường của HTX Dược liệu Như Ý xếp hạng OCOP 3 sao, 4 sao...
Từ những vườn sầu riêng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk, yêu cầu tổ chức lại sản xuất đang trở nên cấp thiết. Ở đó, HTX trở thành điểm tựa hoàn thiện sản xuất, giảm nguy cơ bị ép giá và từng bước đưa nông sản địa phương tiến sâu vào chuỗi giá trị.
Sau 5 năm triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (thường gọi là Chương trình 1719, và nay đã được tích hợp) đã tạo nền tảng quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Thiếu mặt bằng sản xuất, khó đáp ứng điều kiện vay vốn, chưa rõ cơ chế bảo vệ quyền lợi khi tham gia chuỗi liên kết đang là những nút thắt khiến nhiều HTX vùng dân tộc thiểu số và miền núi khó mở rộng quy mô.
Ở vùng núi cao Yên Minh, tỉnh Tuyên Quang, nơi địa hình hiểm trở, đất canh tác kém màu mỡ và điều kiện sản xuất còn nhiều hạn chế, Hà Văn Ngọc, chàng trai dân tộc Tày ở thôn Bản Ké, đã chọn phát triển cây ớt gió để tạo sinh kế.
Trong bối cảnh vẫn còn những đánh giá vai trò HTX chưa đúng mức, chính những thành quả cụ thể từ cơ sở – nơi người dân có việc làm, có thu nhập và gắn bó với sản xuất – đã trở thành minh chứng thuyết phục nhất. Thực tiễn không chỉ phản bác mà còn củng cố nền tảng niềm tin xã hội.
Từng là một trong những huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu, nhưng những năm gần đây, Nậm Nhùn đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ triển khai hàng loạt mô hình kinh tế liên kết tại các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Bộ Công Thương đề xuất sớm áp dụng biểu giá điện sinh hoạt 5 bậc thay cho 6 bậc hiện hành. Theo tính toán sơ bộ, khoảng 94% khách hàng có thể giảm tiền điện, trong khi những hộ tiêu thụ trên 778 kWh/tháng sẽ phải trả nhiều hơn.
Giữa núi rừng của tỉnh Lai Châu, cây sâm bản địa đang mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân vùng cao. Thông qua bảo tồn giống, tổ chức sản xuất và chuyển giao kỹ thuật, HTX Bảo tồn và Phát triển giống Sâm núi Lai Châu từng bước tạo việc...