Sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các quốc gia, xu thế biến động nhanh chóng của khoa học và công nghệ, của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đòi hỏi Việt Nam phải có tư duy quản lý mới, tầm nhìn mới.
Nhân dịp năm mới Canh Tý 2020, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng đã nhấn mạnh điều này khi đề cập tới con đường để Việt Nam trở thành quốc gia thịnh vượng.
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng
Năm 2019, nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là đạt được nhiều thành tựu. Vậy, đâu là những thành tựu mà Bộ trưởng ấn tượng nhất?
Thành tựu đầu tiên mà kinh tế Việt Nam đã đạt được trong năm 2019 phải kể tới đó là duy trì nền tảng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế biến động mạnh; kiểm soát lạm phát ở mức thấp; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khá cao (mức cao do Quốc hội giao), thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới; củng cố và mở rộng các cân đối lớn của nền kinh tế.
Cơ cấu lại nền kinh tế thực chất hơn; trong bối cảnh khó khăn các ngành, lĩnh vực chủ yếu vẫn phát triển ổn định, tích cực; sản xuất công nghiệp tăng mạnh, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng kinh tế; nông nghiệp phát triển ổn định, trong đó xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc; khu vực dịch vụ duy trì đà tăng khá cao.
Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện, tập trung tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính, số lượng DN đăng ký thành lập mới năm sau cao hơn năm trước.
Đặc biệt, vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định và nâng cao.
Bên cạnh các kết quả đạt, nền kinh tế vẫn còn có những tồn tại, hạn chế đã được Chính phủ chỉ ra trong các báo cáo, một số vấn đề tích tụ, tồn đọng từ lâu, không dễ một sớm một chiều có thể khắc phục được. Theo Bộ trưởng, gỡ những nút thắt trên cần bắt đầu từ đâu?
Có thể thấy đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế tuy đạt được một số kết quả nhưng đang bị hạn chế bởi hệ thống hạ tầng phục vụ cho phát triển của đất nước còn chưa tốt... Mô hình tăng trưởng hiện nay chưa là động lực để tạo phát triển bứt phá, đưa kinh tế nước nhà tiến nhanh, tiến kịp các quốc gia trên trường quốc tế và khu vực. Cơ cấu lại và phát triển các ngành, lĩnh vực tiếp tục có những chuyển biến tích cực, nhưng đi sâu vào thì vẫn còn có những yếu tố thiếu bền vững.
Việc khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên là không đơn giản, cần có sự kết hợp giữa những giải pháp ngắn hạn và dài hạn trong thời gian tới và cần có những giải pháp căn cơ và có sự phối kết hợp nhịp nhàng, đồng bộ, hiệu quả hơn nữa giữa các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc cùng sự đồng thuận, chung tay của toàn thể nhân dân để cùng khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào, ý chí, bản lĩnh, khát vọng con người Việt Nam nhằm vượt lên khó khăn, thực hiện thành công kế hoạch năm 2020 và 5 năm 2016-2020, tạo đà xây dựng đất nước phát triển, giàu mạnh và thịnh vượng trong những năm tới.
Quốc hội đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng năm 2020 đạt khoảng 6,8%. Vậy, đâu là động lực cho năm 2020, thưa Bộ trưởng?
Năm 2020 tiếp tục là năm có nhiều khó khăn, thách thức, tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu chậm lại, rủi ro gia tăng, xu hướng bảo hộ, cạnh tranh ngày càng phức tạp, gay gắt. Với độ mở kinh tế lớn, các tác động tiêu cực của kinh tế thế giới đến kinh tế trong nước nhanh và mạnh hơn.
Tuy nhiên, những biện pháp đề ra tập trung vào các nhiệm vụ, như: Quyết liệt đổi mới và cải cách hiệu quả hơn nữa để khơi thông thể chế, nguồn lực cho phát triển; Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập; tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh...
Bên cạnh đó, với nền tảng vĩ mô ổn định, với môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng và sự nỗ lực không ngừng của các cơ quan để cải cách, đổi mới, tập trung vào việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là về thể chế, là điều kiện thuận lợi khuyến khích các thành phần kinh tế phấn khởi gia tăng đầu tư, sản xuất, tạo ra những năng lực mới tăng thêm cho nền kinh tế.
Bối cảnh quốc tế trong giai đoạn sắp tới có nhiều biến động, sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, Việt Nam cần làm gì để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, từ đó trở thành quốc gia thịnh vượng, thưa Bộ trưởng?
Bên cạnh xu thế chủ đạo hòa bình, hợp tác, liên kết và phát triển được dự báo là vẫn tồn tại sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn theo hướng ngày càng phức tạp, gay gắt.
Với điều kiện trên, phát triển bền vững trở thành xu thế bao trùm trên thế giới. Đặc biệt, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn biến rất nhanh, tác động sâu rộng, đa chiều đến hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế toàn cầu. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Điều kiện, thế và lực của nước ta cho phép có những tư duy mạnh dạn hơn, mạnh mẽ hơn, nhưng bối cảnh quốc tế mới, như đã nêu, với sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn, xu thế biến động nhanh chóng của khoa học và công nghệ, của CMCN 4.0 đòi hỏi phải có tư duy mới, tầm nhìn mới và đây chính là những điểm đáng chú ý trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2021-2030, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2021-2025 đang được Bộ KH&ĐT xây dựng.
Về tư tưởng phát triển trong giai đoạn tới cần phải lấy “phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phải chủ động, tích cực tham gia cuộc CMCN 4.0 gắn với quá trình hội nhập quốc tế, đổi mới tư duy và hành động, nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để phát triển”.
Tiếp theo, “lấy hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước”.
Và đặc biệt là, làm sao để khơi dậy khát vọng dân tộc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng đất nước phát triển và thịnh vượng; phát huy tối đa nhân tố con người, lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững. Đồng thời, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải trên cơ sở làm chủ công nghệ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập, đa dạng hóa thị trường, nâng cao sức chống chịu và khả năng thích ứng của nền kinh tế.
Khoảng cách về công nghệ, hạn chế về nhân lực và hạ tầng nghiên cứu đang là những thách thức lớn đối với doanh nghiệp nông nghiệp trong nước. Để các doanh nghiệp có thể tạo bước đột phá về tăng trưởng, cần có sự đồng bộ thể chế, cơ chế hỗ trợ thực chất và đầu tư cho khoa học công nghệ.
Tăng trưởng GDP trên 9% đang tạo thêm dư địa để nâng việc làm, thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, chênh lệch về nguồn lực, hạ tầng, năng lực thực thi và khả năng tiếp cận chính sách giữa các địa phương vẫn là rào cản khiến thành quả tăng trưởng chưa lan tỏa đồng đều, nhất là tại những vùng còn nhiều khó khăn.
Một sản phẩm tốt chưa đủ để tạo nên một thương hiệu mạnh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, doanh nghiệp cần biết thấu hiểu khách hàng, có trách nhiệm với người lao động và cộng đồng, đồng thời chủ động kết nối thương hiệu của mình với thương hiệu ngành hàng, địa phương và quốc gia.
Trước bối cảnh yêu cầu chống phá rừng và truy xuất nguồn gốc của Liên minh châu Âu (EU) ngày càng khắt khe, các doanh nghiệp xuất khẩu không thể chỉ chú ý đến sản lượng và giá cả, mà đồng thời phải quan tâm sâu hơn đến nguồn gốc của nguyên liệu. Nếu một mắt xích không cung cấp được thông tin cần thiết thì việc truy xuất toàn bộ lô hàng sẽ gặp khó khăn.
Từ sản vật địa phương, nghề truyền thống đến tri thức cộng đồng, phụ nữ vùng cao đang từng bước biến những nguồn lực sẵn có thành sản phẩm và sinh kế. Khi được trao thêm kiến thức, kết nối thị trường và cơ hội đổi mới, những giá trị bản địa có thể trở thành động lực giúp phụ nữ dân tộc thiểu số làm kinh tế bền vững.
Thương mại Việt - Pháp tăng trưởng tích cực, trong khi dòng vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam còn nhiều dư địa. Theo TS Bùi Duy Tùng, giảng viên cấp cao ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam, tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA) có thể tạo xung lực mới cho dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ Pháp vào Việt Nam.
Sau hơn 40 năm đổi mới, Việt Nam có gần 1,1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp hơn 60% GDP, khoảng 55% thu ngân sách và tạo việc làm cho 17,6 triệu lao động.
Trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động, kết nối cộng đồng, mở rộng thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, cơ chế đang trở thành những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp trẻ nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực cho tăng trưởng bền vững.