Sầu riêng xuất khẩu: Kết nối “sợi dây vàng” tại thị trường tiềm năng Trung Quốc
Chọn cỡ chữ
Sầu riêng xuất khẩu: Kết nối “sợi dây vàng” tại thị trường tiềm năng Trung Quốc
Theo các chuyên gia, thị trường Trung Quốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với người trồng và doanh nghiệp sầu riêng Việt Nam. Những năm qua, ngành hàng này phát triển nhanh nhờ cơ hội thị trường. Tuy nhiên, để đi xa, ngành sầu riêng cần chú trọng chất lượng, uy tín và niềm tin của đối tác.
Tại
Chương trình “Gặp gỡ, giao thương, kết nối hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng
Việt Nam – Trung Quốc, tỉnh Đắk Lắk năm 2026” chiều 19/8, ông Lê Anh Trung, Chủ
tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk cho rằng thị trường Trung Quốc có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng với người trồng và doanh nghiệp sầu riêng Việt Nam. Những năm
qua, ngành hàng này phát triển nhanh nhờ cơ hội thị trường.
Ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk.
Tuy nhiên, theo ông Trung, tốc độ tăng trưởng không thể là nền tảng duy nhất cho một ngành hàng muốn phát triển lâu dài. “Muốn đi nhanh có thể dựa vào cơ hội thị trường, nhưng muốn đi xa phải dựa vào chất lượng, uy tín và niềm tin của đối tác”, ông nói.
Từ cách tiếp cận này, Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk muốn quan hệ với doanh nghiệp Trung Quốc vượt khỏi những cuộc gặp gỡ, trao danh thiếp hay tìm kiếm một vài hợp đồng mua bán. Mục tiêu xa hơn là cùng xây dựng chuỗi cung ứng sầu riêng ổn định, minh bạch và lâu dài.
Theo báo cáo của Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, địa phương hiện có khoảng 45.000 ha sầu riêng, dự kiến sản lượng năm 2026 đạt 500.000 tấn. Sản phẩm chủ yếu thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 11, tạo lợi thế về thời vụ và khả năng bổ sung nguồn cung cho chuỗi sầu riêng Việt Nam.
Tỉnh Đắk Lắk có khoảng 45.000 ha sầu riêng, dự kiến sản lượng năm 2026 đạt 500.000 tấn.
Thông tin thêm tại sự kiện, ông Trần Văn Thắng,
Phó Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, cho hay, thời gian qua, thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển
ngành sầu riêng của tỉnh Đắk Lắk là chuyển từ sản xuất theo khả năng sang
sản xuất theo nhu cầu thị trường.
“Nếu trước đây, chúng
ta sản xuất xong rồi mới đi tìm người mua thì nay phải chuyển sang sản xuất
những gì thị trường cần”, ông Thắng nhấn mạnh.
Theo đó, doanh nghiệp
và đối tác quốc tế cần tham gia sâu hơn vào quá trình định hướng sản xuất, cung
cấp thông tin về nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, yêu cầu về sản phẩm
và xu hướng tiêu dùng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân cùng
các nhà khoa học và đơn vị kỹ thuật có thể tổ chức sản xuất phù hợp.
Đáng chú ý, Hiệp hội
Sầu riêng Đắk Lắk không khuyến khích nông dân tiếp tục chạy theo việc mở rộng
diện tích. Thay vào đó, mục tiêu là nâng giá trị trên từng đơn vị diện tích, để
cùng một héc ta nhưng tạo ra sản phẩm đẹp hơn, chất lượng tốt hơn và bán được
giá trị cao hơn.
Tư duy này đặt chất
lượng, an toàn thực phẩm, nguyên liệu có kiểm soát và truy xuất nguồn gốc vào
vị trí trung tâm. Cùng với đó là đẩy mạnh chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch,
xây dựng thương hiệu và phát triển hệ thống logistics.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh sầu riêng là mặt
hàng có giá trị cao nhưng yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng và thời gian bảo
quản. Nếu chỉ tập trung tăng sản lượng mà không kiểm soát tốt chất lượng, dư
lượng, truy xuất nguồn gốc và khâu sau thu hoạch, lợi thế vùng nguyên liệu có
thể không chuyển hóa thành giá trị kinh tế tương xứng.
Đặc biệt, đại
diện Hiệp hội sầu riêng Đắk Lắk, nhấn mạnh, Trung Quốc không chỉ là thị trường
tiêu thụ quan trọng mà còn có thể trở thành đối tác trong quá trình xây dựng
chuỗi giá trị sầu riêng.
Ông
Thắng cho rằng doanh nghiệp Trung Quốc không nên chỉ đến Đắk Lắk vào mùa thu
hoạch để mua sầu riêng theo sản lượng và giá cả từng thời điểm. Hai bên cần
hướng tới quan hệ hợp tác dài hạn, trong đó doanh nghiệp Trung Quốc tham gia
sâu hơn vào việc định hình sản phẩm theo nhu cầu thị trường.
“Chúng
tôi mong muốn quý vị không chỉ sang đây để tìm sầu riêng để mua mà cùng chúng
tôi tham gia một chuỗi giá trị”, ông Thắng chia sẻ.
Theo
hướng này, doanh nghiệp Trung Quốc có thể cung cấp thông tin về thị hiếu người
tiêu dùng, tiêu chuẩn sản phẩm, công nghệ bảo quản, chế biến và phân phối. Phía
Việt Nam tổ chức vùng nguyên liệu, sản xuất theo tiêu chuẩn, kiểm soát chất
lượng và kết nối với doanh nghiệp xuất khẩu.
Một
lĩnh vực được Hiệp hội đặc biệt kỳ vọng là ứng dụng khoa học - công nghệ trong
chế biến và phân loại sầu riêng. Hiện, nhiều công đoạn vẫn phụ thuộc đáng kể vào
lao động thủ công, khiến việc kiểm soát chất lượng chưa thực sự đồng nhất.
Theo
ông Thắng, cần đưa thiết bị và công nghệ vào các dây chuyền để có thể “cân, đo,
đong, đếm” được những đặc tính của sản phẩm, từ đó phân loại chính xác hơn và
kiểm soát chất lượng tốt hơn. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp hai nước hợp
tác trong đầu tư công nghệ, nhà máy chế biến, kho lạnh và logistics.
Đắk
Lắk mong muốn hình thành các chuỗi liên kết trực tiếp từ vùng nguyên liệu,
doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp xuất khẩu đến hệ thống phân phối tại Trung
Quốc. Những hợp đồng mua bán hiện tại sẽ là nền tảng, nhưng mục tiêu cao hơn là
hình thành các dự án hợp tác dài hạn về chế biến, bảo quản, logistics, thương
mại và khoa học - công nghệ.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp Trung Quốc có lợi thế về thị
trường, hệ thống phân phối, công nghệ và kinh nghiệm thương mại; Đắk Lắk và cả vùng Tây
Nguyên có vùng nguyên liệu, người nông dân, doanh nghiệp cùng dư địa phát triển
lớn. Hai bên có thể bổ sung thế mạnh cho nhau để cùng nâng giá trị chuỗi sầu
riêng.
Hiệp
hội Sầu riêng Đắk Lắk cũng xác định vai trò cầu nối giữa nông dân, hợp tác xã,
doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các đối tác trong và ngoài nước. Mục tiêu là
tạo tiếng nói chung trong toàn bộ chuỗi, từ sản xuất đến người tiêu dùng cuối
cùng.
“Chúng
tôi mong các doanh nghiệp Trung Quốc không chỉ nhìn Đắk Lắk như một nơi để mua
sầu riêng mỗi mùa, mà hãy nhìn Đắk Lắk như một đối tác lâu dài, một vùng nguyên
liệu chiến lược và một địa điểm có tiềm năng để đầu tư vào chế biến, logistics
và chuỗi cung ứng nông sản của Tây Nguyên”, ông Thắng nhấn mạnh.
ông Lưu Húc, Giám đốc kinh doanh thị trường nước ngoài, Liên hiệp Hợp tác xã Cung ứng và Tiêu thụ Quảng Tây, đại diện China Coop.
Tại sự kiện, ông Lưu Húc, Giám đốc
kinh doanh thị trường nước ngoài, Liên hiệp Hợp tác xã Cung ứng và Tiêu thụ
Quảng Tây, đại diện China Coop, đánh giá sầu riêng không chỉ là một loại trái
cây nhiệt đới mà còn có thể trở thành “sợi dây vàng” kết nối vùng sản xuất chất
lượng của Việt Nam với thị trường rộng lớn của Trung Quốc.
Theo ông, nhu cầu tiêu dùng sầu riêng chất lượng cao tại Trung
Quốc tiếp tục tăng, trong khi những thuận lợi về chính sách thương mại và lợi
thế vùng trồng của Việt Nam đang mở ra cơ hội lớn để hai bên nâng cấp hợp tác.
Tuy nhiên, hợp tác không nên dừng ở việc thu mua và trao đổi hàng hóa mà cần
hướng tới xây dựng một chuỗi ngành lâu dài, an toàn và bền vững.
“Chúng
tôi không chỉ muốn mua sầu riêng từ Việt Nam. Chúng tôi muốn cùng các đối tác
xây dựng một chuỗi cung ứng ổn định, đáng tin cậy và có khả năng phát triển lâu
dài”, ông Lưu Húc chia sẻ.
Theo
đó, China Coop mong muốn phối hợp với các đối tác Việt Nam chuẩn hóa sản xuất
ngay từ vùng trồng, từ lựa chọn giống, quy trình canh tác, kiểm soát sâu bệnh
đến thu hoạch và xử lý sau thu hoạch. Các chuyên gia có thể tổ chức “lớp học
tại vườn”, hỗ trợ nông hộ nâng cao kỹ thuật và xây dựng vùng nguyên liệu đáp
ứng yêu cầu của thị trường Trung Quốc.
Cùng
với chất lượng tại nguồn, hệ thống sơ lạnh, phân loại, kho vùng trồng và chuỗi
lạnh xuyên biên giới sẽ được chú trọng nhằm giữ độ tươi, giảm tổn thất và ổn
định chất lượng. Việc kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng,
vi sinh vật và xây dựng hệ thống truy xuất cũng giúp mỗi lô hàng minh bạch hơn,
củng cố niềm tin của người tiêu dùng.
China
Coop hiện có mạng lưới gần 30.000 hợp tác xã cung tiêu cơ sở, hơn 3.000 chợ đầu
mối và hàng trăm nghìn điểm bán lẻ, có khả năng đưa sầu riêng Việt Nam tiếp cận
sâu hơn thị trường Trung Quốc.
“Chúng
tôi mong muốn mỗi trái sầu riêng đều có chất lượng, mỗi người nông dân đều có
thu nhập. Đó mới là ý nghĩa của việc xây dựng chuỗi ngành”, ông Lưu Húc nhấn
mạnh.
Theo ban tổ chức, Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ sầu
riêng chủ lực, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng sầu riêng Đắk Lắk. Địa phương có
280 vùng trồng với khoảng 7.500 ha và 41 cơ sở đóng gói quả tươi đã được phê
duyệt mã số xuất khẩu.
Tuy
nhiên, diện tích được cấp mã số mới đáp ứng khoảng 17-28% diện tích sầu riêng
cho thu hoạch; 253 mã số vùng trồng với khoảng 6.532 ha cùng 92 cơ sở đóng gói
đang chờ phía Trung Quốc phê duyệt.
Nông nghiệp công nghệ cao đang mở rộng với nhiều mô hình cho thấy khả năng giảm chi phí, tiết kiệm tài nguyên và nâng năng suất. Tuy nhiên, chi phí đầu tư lớn, sản xuất manh mún và thị trường chưa sẵn sàng trả thêm cho giá trị gia tăng vẫn khiến việc nhân rộng gặp khó.
Công an TP. Hà Nội phối hợp Đội Quản lý thị trường số 17 Hà Nội vừa triệt phá cơ sở sản xuất viên Vitamin C sủi của Công ty TNHH Thương mại Vintechpharm có dấu hiệu sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm.
Giá cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên ngày 5/10 tiếp tục nhích tăng 100-200 đồng/kg, đưa mặt bằng thu mua lên quanh 94.000 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, giá Robusta London và Arabica New York cũng đồng loạt tăng ở nhiều kỳ hạn.
AkzoNobel vừa ký thỏa thuận ràng buộc chuyển nhượng mảng sơn trang trí tại 7 thị trường, trong đó có Việt Nam, cho Nippon Paint. Thương vụ đưa những thương hiệu sơn ngoại quen thuộc nhất với người tiêu dùng Việt về chung một chủ sở hữu, với mức định giá 21 lần EBITDA.
Ngày 3/10, AEON Việt Nam khai trương Trung tâm Thương mại AEON Hải Dương tại phường Thạch Khôi, thành phố Hải Phòng. Với 38.100 m² sàn, đây là trung tâm quy mô vừa đầu tiên của tập đoàn Nhật Bản tại Đồng bằng sông Hồng, chỉ bằng chưa tới 1/3 hai dự án mà AEON sắp đưa vào hoạt động ở Thanh Hóa và Hạ Long. Dự án tạo khoảng 900 việc làm và mở thêm một kênh phân phối hiện đại cho nông sản, hợp tác xã trên địa bàn.
Thị trường cà phê nội địa hôm nay (2/10) ghi nhận đà khởi sắc rõ rệt khi giá thu mua tại các tỉnh Tây Nguyên đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg, giao dịch quanh mức trung bình 94.700 đồng/kg.
Từ những vùng trồng dược liệu còn nhỏ lẻ, HTX Dược liệu Trường Sơn tại Quảng Trị đang tổ chức lại sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến và kết nối thị trường, từng bước đưa cây dược liệu vào chuỗi giá trị, nâng cao giá trị sản phẩm...