HTX chuẩn hóa sản xuất
Từ những người nông dân vốn quen trồng lúa thương phẩm, HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Trung Thành đã chuyển hướng chuyên canh lúa giống chất lượng cao, chủ yếu các dòng HG12, ST24, ST25.
HTX hiện có 26 thành viên, liên kết thêm 50 hộ dân trong và ngoài địa phương, tổ chức sản xuất trên hơn 100 ha và phần lớn diện tích được thực hiện theo hợp đồng với doanh nghiệp. Quyết định chuyển từ bán hạt lúa thương phẩm sang sản xuất lúa giống của HTX không đơn thuần là thay đổi giống cây trồng, mà là thay đổi cách tham gia thị trường.
Vào HTX, làm lúa giống theo hợp đồng liên kết với doanh nghiệp theo hướng chuẩn hóa sản xuất, đem lại thu nhập ổn định hơn, đồng thời giúp nông dân giảm sự bấp bênh của đầu ra.
Điểm đáng chú ý là HTX đã biến quy mô liên kết thành năng lực sản xuất. Lúa giống đòi hỏi quy trình chặt chẽ hơn lúa thịt, thời gian canh tác kéo dài khoảng 115 - 120 ngày, trong khi lúa thương phẩm khoảng 100 ngày.
Từ làm đất, bón phân, sử dụng thuốc đến chăm sóc đều phải tuân thủ kỹ thuật. Nhưng chính yêu cầu cao ấy lại tạo động lực để HTX chuẩn hóa sản xuất, cơ giới hóa và kiểm soát chất lượng.
Trên những cánh đồng lớn, drone được sử dụng để gieo sạ, phun thuốc, bón phân; máy gặt đập liên hợp đảm nhiệm khâu thu hoạch. HTX đã đầu tư những drone công suất lớn, trị giá gần 400 triệu đồng, để giảm lao động thủ công và nâng năng suất.
CHUẨN HÓA SẢN XUẤT & CƠ GIỚI HÓA LÚA GIỐNG
Số liệu tổ chức sản xuất tại HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Trung Thành
Ông Trần Đức Trung, kỹ thuật viên của HTX Trung Thành, cho hay gieo sạ bằng drone giúp giảm lượng giống và công lao động, trong khi các khâu cơ giới hóa có năng suất cao gấp nhiều lần so với làm thủ công. Máy gặt đập liên hợp còn giúp thu lúa sạch hơn, rơm được thu gom gọn để bán cho các đơn vị khác.
Như vậy, cơ giới hóa không chỉ là câu chuyện máy móc, đó là điều kiện để HTX tổ chức lại sản xuất, giảm chi phí và khai thác thêm giá trị từ phụ phẩm. Với năng suất 7 - 8 tạ/sào/năm và giá lúa giống cao hơn lúa thịt hơn 1.000 đồng/kg, thu nhập của người sản xuất tăng khoảng 15 - 20%.
Liên kết hình thành chuỗi giá trị
Từ mô hình HTX Trung Thành có thể thấy đóng góp của kinh tế hợp tác trước hết nằm ở khả năng tổ chức lại nguồn lực phân tán. Một hộ có thể có ruộng, kinh nghiệm và sức lao động, nhưng khó đáp ứng đơn hàng lớn, khó đầu tư máy móc đắt tiền và khó đàm phán bình đẳng với doanh nghiệp.
Khi vào HTX, những nguồn lực nhỏ được cộng lại thành vùng sản xuất đủ lớn, có quy trình và khả năng ký hợp đồng. Đây là giá trị kinh tế quan trọng của HTX khi biến những hộ sản xuất riêng lẻ thành một chủ thể có năng lực tham gia chuỗi.
Câu chuyện hạt điều của ông Lê Văn Bảy, thành viên HTX Nông nghiệp Đồng Tâm (xã Cát Tiên 3, Lâm Đồng), cho thấy bước phát triển tiếp theo của liên kết là xây dựng chuỗi giá trị.
Từ cơ sở tách vỏ thủ công khởi nghiệp năm 1997, ông Bảy vận động nông hộ xây dựng vùng nguyên liệu, đầu tư dây chuyền chế biến khép kín trên khoảng 2.000 m². Mỗi năm, chuỗi xuất khẩu khoảng 100 tấn thành phẩm và tiêu thụ trong nước khoảng 50 tấn. Hạt điều rang muối được công nhận OCOP 3 sao từ năm 2019. Đến cuối năm 2025, ba dòng sản phẩm được nâng lên 4 sao.
Đằng sau những ngôi sao OCOP là một cấu trúc liên kết đáng chú ý. Vùng nguyên liệu được tổ chức trên khoảng 500 ha trong và ngoài tỉnh; đơn vị chủ trì chịu trách nhiệm thu mua, chế biến, hoàn thiện chất lượng và kết nối thị trường, trong khi người trồng điều chuyển dần từ tư duy chỉ bán nguyên liệu sang tham gia một ngành hàng có giá trị.
CẤU TRÚC CHUỖI GIÁ TRỊ & NÂNG HẠNG OCOP
Số liệu chuỗi liên kết HTX Nông nghiệp Đồng Tâm và mô hình chế biến hạt điều
HTX Nông nghiệp Đồng Tâm là một mắt xích trong chuỗi này, liên kết khoảng 50 hộ trên hơn 200 ha điều, cung cấp khoảng 200 tấn nguyên liệu mỗi năm. Ông Đào Văn Đắc, Giám đốc HTX, cho biết vùng điều được duy trì hơn 30 năm, có kinh nghiệm về giống, kỹ thuật, thu hái và bảo quản, tạo điều kiện để nguyên liệu đồng đều, giữ đặc tính riêng của vùng đất.
Một sản phẩm được nâng hạng không chỉ nhờ bao bì đẹp hay hoàn thiện hồ sơ, mà trước hết phải có chất lượng ổn định, nguồn nguyên liệu đáng tin cậy và năng lực chế biến, tiêu thụ. Nếu vùng nguyên liệu thiếu tổ chức, sản lượng biến động và chất lượng không đồng đều, thương hiệu khó đi xa.
Ngược lại, khi HTX và doanh nghiệp cùng xây dựng vùng nguyên liệu, mỗi khâu trong chuỗi đều có trách nhiệm, sản phẩm OCOP có thêm nền tảng để cạnh tranh.
Phát huy thế mạnh địa phương
Tại Nhân Cơ (Lâm Đồng), chuỗi liên kết nông nghiệp đang được mở rộng sang cà phê và mắc ca. HTX Hoàn Phương có sản phẩm cà phê bột đạt OCOP 3 sao, duy trì khoảng 20 ha sản xuất của 10 thành viên theo hướng sạch, an toàn, kiểm soát nguyên liệu ngay từ vùng trồng.
HTX đầu tư máy móc chế biến, nghiên cứu các dòng honey, natural và mở rộng tiêu thụ qua Zalo, Facebook, trang thương mại điện tử của xã cùng hệ thống đại lý trong và ngoài tỉnh. Từ sản xuất đến chế biến, thương hiệu và phân phối, HTX đang từng bước khép kín chuỗi giá trị nông nghiệp thay vì dừng ở khâu bán nông sản thô.
Những chuyển động thực tiễn cho thấy HTX đóng góp vào kinh tế địa phương theo nhiều tầng nấc. Trước hết là tạo việc làm và thu nhập cho thành viên, hộ liên kết và lao động tham gia sản xuất, cơ giới hóa, sơ chế, chế biến. Tiếp đó là kích thích đầu tư máy móc, dịch vụ nông nghiệp và thương mại phụ trợ.
Quan trọng hơn, HTX giúp giữ lại giá trị tại địa phương khi nông sản không chỉ bán nguyên liệu mà được phân loại, chế biến, đóng gói, xây dựng thương hiệu và đưa ra thị trường với giá trị gia tăng cao hơn.
Thực tế từ Cát Tiên và Nhân Cơ cho thấy những tiềm năng to lớn của các HTX trong phát triển nông nghiệp, song cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ HTX theo hướng thiết thực hơn về vốn cho máy móc, đào tạo quản trị, chuyển giao công nghệ, kết nối doanh nghiệp, xây dựng vùng nguyên liệu, bảo hộ thương hiệu và mở rộng thị trường.
Song song với vốn, HTX cần được hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị để có thể đàm phán hợp đồng, quản lý chất lượng, tổ chức dữ liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Khi HTX làm tốt vai trò hạt nhân, người nông dân có thêm điểm tựa, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, địa phương có thêm việc làm và giá trị được giữ lại trong cộng đồng. Từ lúa giống Trung Thành, vùng điều Đồng Tâm đến cà phê Hoàn Phương, cho thấy liên kết tốt giúp nông nghiệp chuyển từ sản xuất nhỏ sang kinh tế chuỗi, từ bán nguyên liệu sang tạo giá trị và từ lợi thế địa phương thành sức cạnh tranh bền vững.