Longform
Phong cảnh miền núi Tây Bắc Lào Cai và Sơn La

HTX đưa việc làm về bản, mở đường cho nông sản ra thị trường

Thực tiễn tại Lào Cai và Sơn La cho thấy, khi HTX đứng ra tập hợp các hộ, hướng dẫn kỹ thuật, đầu tư chế biến và kết nối tiêu thụ, nguồn lực tại chỗ có thể trở thành động lực phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo ở địa phương.

Tại thôn Củm Hạ 1, xã Cốc San, tỉnh Lào Cai, anh Phạm Văn Quyết bắt đầu phát triển kinh tế từ năm 2018 với 500 m² vườn ươm cây quế, cung cấp khoảng 12 vạn cây giống mỗi năm.

Mở hướng đi bền vững

Từ quy mô ban đầu, anh từng bước mở rộng diện tích, đưa máy móc, hệ thống tưới tự động và kỹ thuật mới vào sản xuất. Tuy nhiên, bước chuyển quan trọng không chỉ nằm ở việc tăng quy mô vườn ươm mà còn ở quyết định thành lập HTX cây giống năm 2021, tập hợp những hộ sản xuất nhỏ lẻ cùng phát triển.

Từ 4 thành viên ban đầu, sau hai năm, HTX tăng lên 8 thành viên, diện tích sản xuất đạt 12.000 m². Hiện mỗi năm, đơn vị cung ứng khoảng 50 vạn cây quế giống cho người trồng rừng tại địa phương và các vùng lân cận. Từ năm 2023 đến nay, doanh thu bình quân đạt trên 1,2 tỷ đồng/năm, lợi nhuận khoảng 450 triệu đồng/năm.

Mô hình HTX Cây giống Quế tại Xã Cốc San (Lào Cai)

Sự bứt phá sau khi liên kết các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành HTX

Diện tích sản xuất
0 m²
Từ 500 m² năm 2018 (tăng gấp 24 lần)
Cung ứng cây giống
0 vạn cây/năm
Khởi điểm 12 vạn cây mỗi năm
Doanh thu bình quân
> 0 tỷ đồng/năm
Lợi nhuận ~ 450 triệu đồng/năm (từ 2023)
Thu nhập lao động
6 - 8 triệu đồng/tháng
6 việc làm thường xuyên, 12-15 thời vụ
Bước nhảy vọt về quy mô & sản lượng cung ứng
Diện tích vườn ươm
12.000 m² (Gấp 24 lần ban đầu)
Sản lượng cung ứng giống quế
50 vạn cây giống / năm
Số lượng thành viên HTX
8 thành viên cùng phát triển
Địa bàn xã miền núi Cốc San: Quy mô dân số khoảng 11.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 62%. Việc làm tại chỗ giúp người lao động không phải rời quê tìm việc xa.

Đáng chú ý, hoạt động sản xuất của HTX không chỉ mang lại thu nhập cho các thành viên mà còn tạo việc làm thường xuyên cho 6 lao động địa phương, với mức thu nhập bình quân 6-8 triệu đồng/người/tháng; đồng thời tạo việc làm thời vụ cho 12-15 lao động vào những thời điểm cao điểm.

Câu chuyện ở Cốc San cho thấy giá trị của HTX nằm ở khả năng biến hoạt động sản xuất riêng lẻ thành một tổ chức kinh tế có quy mô, có đầu ra và khả năng duy trì việc làm.

Thay vì mỗi hộ tự đầu tư, tự tìm đầu mối tiêu thụ và tự gánh chịu rủi ro, các thành viên HTX có thể phối hợp nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm, mở rộng sản lượng và đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn.

Vườn ươm cây giống quế với hệ thống tưới tại Cốc San Lào Cai
Hệ thống vườn ươm cây giống quế ứng dụng kỹ thuật và tưới tự động tại Cốc San, Lào Cai.

Với Cốc San, xã miền núi có khoảng 11.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 62%, những việc làm được tạo ra ngay tại địa phương càng có ý nghĩa.

Người lao động có thể kiếm sống từ sản xuất nông nghiệp mà không nhất thiết phải rời quê tìm việc làm xa. Thu nhập được duy trì, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy và nguồn lực kinh tế có điều kiện ở lại cộng đồng.

Từ mô hình này, có thể thấy HTX không thay thế nỗ lực tự vươn lên của từng hộ, mà tạo ra môi trường để nỗ lực ấy phát huy hiệu quả. Khi có tổ chức đứng ra kết nối, người dân không còn chỉ sản xuất theo khả năng riêng lẻ mà từng bước tham gia vào một chuỗi cung ứng, trong đó chất lượng, sản lượng và thời điểm giao hàng đều có yêu cầu cụ thể.

Từ tăng sản lượng đến nâng giá trị sản phẩm

Nếu mô hình cây giống tại Lào Cai cho thấy vai trò của HTX trong tổ chức sản xuất và tạo việc làm, câu chuyện HTX cà phê Bích Thao tại phường Chiềng Cơi, tỉnh Sơn La lại phản ánh một hướng phát triển khác, khi nâng giá trị nông sản bằng thay đổi phương thức canh tác, đầu tư chế biến và mở rộng thị trường.

Theo ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc HTX cà phê Bích Thao, năm 2017, đơn vị chỉ có 11 thành viên, với 50 ha canh tác. Khi đó, người dân quen thu hái cả quả xanh lẫn quả chín, phơi cà-phê ngoài trời và sử dụng nhiều phân bón hóa học. Chất lượng sản phẩm thiếu ổn định, đất có dấu hiệu bạc màu, trong khi giá cà-phê nhân thô thấp và bấp bênh.

Cà phê Arabica chín đỏ trĩu cành trên cao nguyên Sơn La
Quả cà phê chín mọng trên sườn đồi Chiềng Cơi, Sơn La.

Những hạn chế ấy không thể giải quyết chỉ bằng cách tăng diện tích hoặc sản lượng. HTX lựa chọn tổ chức lại quy trình sản xuất, hướng dẫn thành viên thu hái quả chín 100%, sử dụng phân bón hữu cơ, sơ chế bằng phương pháp ủ yếm khí và phơi trong nhà màng khép kín. Song song với đó là đầu tư máy móc phân loại màu hạt, hệ thống kiểm soát độ ẩm, nhiệt độ và chi phí kiểm định chất lượng phục vụ xuất khẩu.

Sau gần một thập kỷ chuyển đổi, HTX đã phát triển lên 150 ha cà phê đặc sản, liên kết sản xuất với khoảng 1.200 hộ nông dân; đạt các chứng nhận VietGAP, UTZ, ứng dụng mã số vùng trồng kỹ thuật số và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR.

Hành trình Nâng Tầm Chuỗi Giá Trị Cà Phê Bích Thao (Sơn La)

Chuyển dịch từ canh tác truyền thống bấp bênh sang cà phê đặc sản chế biến sâu

NĂM 2017

Khởi đầu khó khăn

  • Quy mô thành viên: 11 thành viên
  • Diện tích canh tác: 50 ha
  • Tập quán thu hái: Hái cả quả xanh lẫn chín
  • Phương thức sơ chế: Phơi ngoài trời, nhiều phân hóa học
  • Đầu ra & giá trị: Giá cà phê thô thấp, bấp bênh
Gần 1 thập kỷ chuyển đổi
HIỆN NAY

Cà phê đặc sản xuất khẩu

  • Quy mô liên kết: ~1.200 hộ nông dân
  • Cà phê đặc sản: 150 ha
  • Tiêu chuẩn hái: 100% quả chín
  • Công nghệ sơ chế: Ủ yếm khí, phơi nhà màng, máy tách màu
  • Chứng nhận & Số hóa: VietGAP, UTZ, mã QR truy xuất
Doanh thu HTX hiện nay
> 0 tỷ đồng/năm
Bảo đảm đầu ra cho 1.200 hộ liên kết
Giá cà phê chế biến sâu
230 - 270 nghìn đồng/kg
Cao hơn nhiều lần so với cà phê thô
Thu nhập bình quân
> 0 triệu đồng/tháng
Việc làm ổn định cho hàng chục lao động

Những thay đổi về tổ chức sản xuất được phản ánh qua kết quả kinh doanh. Doanh thu của HTX hiện đạt hơn 40 tỷ đồng/năm. Các sản phẩm cà-phê chế biến sâu có giá bán từ 230.000-270.000 đồng/kg, cao hơn nhiều lần so với cà phê thô thông thường.

HTX cũng tạo việc làm ổn định cho hàng chục lao động địa phương, với thu nhập bình quân hơn 10 triệu đồng/tháng.

Quy mô liên kết của Bích Thao cho thấy HTX có thể đóng vai trò đầu mối tổ chức một vùng nguyên liệu lớn hơn nhiều lần diện tích do chính đơn vị trực tiếp quản lý. Khi quy trình canh tác, tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu truy xuất được thống nhất, hàng nghìn hộ nông dân có cơ hội tham gia chuỗi sản xuất có tổ chức, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào giao dịch nhỏ lẻ.

Liên kết để mạnh hơn

Ông Nguyễn Xuân Tùng, một hộ có 3 ha cà phê liên kết với HTX Bích Thao, cho biết gia đình được bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Nhờ được hướng dẫn kỹ thuật canh tác theo hướng hữu cơ và tận dụng phụ phẩm làm phân bón, năng suất và giá bán tăng khoảng 20-30% so với trước.

Lợi ích ở đây không chỉ là mức giá cao hơn. Liên kết tiêu thụ giúp hộ sản xuất có căn cứ để lựa chọn quy trình đầu tư, giảm nguy cơ phải bán tháo khi thu hoạch và chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất.

Có thể thấy, khi HTX đồng thời hỗ trợ kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và tổ chức đầu ra, người nông dân có điều kiện chuyển từ tư duy sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất theo yêu cầu của thị trường.

Dây chuyền sàng lọc và chế biến cà phê công nghệ hiện đại
Các HTX đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.

Hiện, hệ thống chế biến của HTX Bích Thao có công suất đạt 80 tấn cà phê nhân/ngày đêm, với lượng xuất khẩu hằng năm từ 4.000-6.000 tấn sang hơn 20 quốc gia. Máy sàng công nghệ Đức và Mỹ, dây chuyền rang xay và kho bảo quản hiện đại giúp nâng khả năng phân loại, chế biến và đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

Tuy nhiên, không phải HTX nào cũng có đủ nguồn lực để đầu tư hạ tầng ở quy mô như Bích Thao. Điểm cần nhân rộng không đơn thuần là hệ thống máy móc đắt tiền, mà là cách HTX xác định thị trường, lựa chọn tiêu chuẩn phù hợp và tổ chức đầu tư theo nhu cầu thực tế.

Với những đơn vị nhỏ, liên kết dùng chung cơ sở chế biến, thuê dịch vụ kỹ thuật hoặc hợp tác với doanh nghiệp có thể là phương án khả thi hơn tự đầu tư toàn bộ.

Thực tiễn tại Lào Cai và Sơn La cũng cho thấy phát triển HTX không thể chỉ dựa vào việc vận động người dân tham gia tổ chức. Muốn tạo việc làm bền vững, HTX phải chứng minh được hiệu quả kinh tế, bảo đảm lợi ích thành viên và có khả năng duy trì thị trường đầu ra.

Thước Đo Đánh Giá Hiệu Quả HTX Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số
01
Kinh tế & Lợi nhuận

Chứng minh được hiệu quả doanh thu, bảo đảm quyền lợi tài chính vững vàng cho các thành viên.

02
Việc làm ổn định

Tạo sinh kế thường xuyên, mức thu nhập đủ sống để người lao động không phải rời bỏ quê hương.

03
Bảo đảm đầu ra

Khả năng tiêu thụ sản phẩm, kết nối thị trường ổn định, loại bỏ áp lực bán tháo nông sản.

04
Cải thiện sinh kế

Giảm phụ thuộc vào hỗ trợ ngắn hạn, tự chủ nâng cao năng lực và chủ động trước biến động thị trường.

Đặc biệt, hiệu quả HTX cần được đánh giá không chỉ bằng doanh thu hay lợi nhuận mà còn bằng số việc làm ổn định, mức thu nhập của thành viên, khả năng tiêu thụ sản phẩm và mức độ cải thiện sinh kế.

Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đây là cơ sở để xác định mô hình nào thực sự giúp người dân giảm phụ thuộc vào hỗ trợ ngắn hạn, từng bước tự tạo việc làm và chủ động trước biến động thị trường.

Minh Khuê