Longform
Toàn cảnh đồi nương xã Nậm Chày, tỉnh Lào Cai

Bước ngoặt giúp người dân Nậm Chày "thắng lớn" với cây gừng

Từ cây gừng vốn quen thuộc trong vườn nhà, người dân xã Nậm Chày, tỉnh Lào Cai, đang từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa, tạo nguồn thu nhập cao hơn so với nhiều cây trồng truyền thống.

Trước đây, cũng như nhiều hộ dân tại Nậm Chày, gia đình ông Chảo A Tú ở thôn Hỏm Trên chủ yếu trồng lúa, ngô, sắn để phục vụ đời sống. Những cây trồng này tương đối quen thuộc, phù hợp với tập quán canh tác lâu năm, nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao, trong khi công chăm sóc và chi phí đầu tư không nhỏ.

Mừng với cây gừng

Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp truyền thống và những cây trồng cũ khó tạo ra bước chuyển đáng kể cho đời sống gia đình. Khi cây gừng được đưa vào canh tác, ông Tú nhận thấy sự khác biệt về khả năng sinh trưởng cũng như giá trị thu được trên cùng diện tích đất.

Gia đình ông Tú hiện có gần 1 ha gừng, năng suất khoảng 10 tấn/ha, giá bán dao động từ 6.000-10.000 đồng/kg. Sau khoảng 7-11 tháng trồng, mỗi ha có thể mang lại doanh thu 60-100 triệu đồng. Trừ chi phí giống, phân bón, chăm sóc và thu hoạch, lợi nhuận đạt khoảng 25-35 triệu đồng/ha/vụ.

Hiệu quả kinh tế từ cây gừng ở Nậm Chày

Dữ liệu thực tế từ mô hình canh tác gần 1 ha của hộ gia đình ông Chảo A Tú (thôn Hỏm Trên, xã Nậm Chày)

0 Tấn / ha
Năng suất bình quân
Khả năng sinh trưởng tốt, thích ứng điều kiện đất dốc và khí hậu vùng cao Nậm Chày.
0 - 0 Tháng
Chu kỳ canh tác / vụ
Thời gian từ lúc gieo trồng đến khi củ gừng đạt chuẩn già để thu hoạch thương phẩm.
0 - 0 Triệu / ha
Lợi nhuận ròng / vụ
Số tiền thực thu sau khi đã trừ toàn bộ chi phí đầu tư và chăm sóc.
Cơ cấu Doanh thu
Tổng Doanh thu: 60 - 100 Triệu đồng / ha
Chi phí sản xuất (~65%)
Lợi nhuận ròng (~35%)
Chi phí sản xuất & Thu hoạch Gồm giống gừng, phân bón, công chăm sóc và chi phí nhân công thu hoạch.
25 - 35 Triệu đồng Lợi nhuận ròng Tạo nguồn tích lũy thực tế cho nông hộ trên diện tích đất dốc vùng cao.
Cây trồng truyền thống (Lúa, Ngô, Sắn)
  • Đòi hỏi nhiều công sức chăm sóc và canh tác.
  • Chi phí đầu tư không nhỏ nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao.
  • Thu nhập thấp, khó tạo bước chuyển sinh kế cho gia đình.
Mô hình Cây Gừng Hàng Hóa Mới
  • Khả năng sinh trưởng thích ứng vượt trội trên cùng diện tích đất.
  • Thu nhập và giá trị thu được cao hơn rõ rệt nếu canh tác đúng kỹ thuật.
  • Tạo nguồn thu 25-35 triệu đồng/ha lợi nhuận, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Những con số cho thấy cây gừng có khả năng tạo nguồn thu đáng kể đối với hộ nông dân vùng cao, nơi quỹ đất sản xuất và cơ hội chuyển đổi sinh kế còn hạn chế.

Ông Và A Đứng cũng nhận thấy hiệu quả kinh tế của cây gừng cao hơn so với các cây trồng truyền thống. Theo ông, trồng ngô, sắn, lúa đòi hỏi nhiều công sức nhưng thu nhập thấp, trong khi gừng cho kết quả tốt hơn nếu được canh tác đúng kỹ thuật. Thực tế từ các hộ đi trước đã tạo thêm niềm tin để người dân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Tuy nhiên, ý nghĩa của sự chuyển đổi không chỉ nằm ở mức lợi nhuận cao hơn. Điều đáng chú ý là tư duy sản xuất của người dân đang từng bước thay đổi.

Nếu trước đây lựa chọn cây trồng chủ yếu dựa vào tập quán và kinh nghiệm, thì nay hiệu quả kinh tế, giá bán, nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ dần trở thành những yếu tố được cân nhắc.

Củ gừng tươi Nậm Chày sau thu hoạch
Củ gừng tươi nguyên liệu thu hoạch trên đất dốc Nậm Chày đạt năng suất bình quân khoảng 10 tấn/ha.

Tổ chức lại sản xuất, tạo điểm tựa cho người dân

Theo ông Nguyễn Ngọc Chiều, Trưởng phòng Kinh tế xã Nậm Chày, địa phương hiện có khoảng 14 ha gừng. Qua bước đầu triển khai, cây trồng này cho thấy những lợi thế nhất định về điều kiện canh tác, đồng thời có thị trường tiêu thụ và khả năng chế biến thành nhiều sản phẩm. Đây là cơ sở để xã định hướng phát triển cây gừng theo hướng hàng hóa, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Dù vậy, diện tích khoảng 14 ha vẫn cho thấy quy mô sản xuất còn khiêm tốn. Để cây gừng thực sự trở thành nguồn thu ổn định, bài toán không thể dừng ở việc mở rộng diện tích. Nếu sản lượng tăng nhanh nhưng đầu ra không theo kịp, người trồng vẫn có thể đối mặt với tình trạng giá cả biến động, khó tiêu thụ hoặc phải bán nguyên liệu với giá thấp.

Bởi vậy, phát triển vùng trồng cần đi cùng tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xây dựng thị trường. Đây cũng là khoảng trống mà mô hình HTX có thể tham gia giải quyết.

Trong chuỗi giá trị gừng tại Nậm Chày, HTX Dịch vụ nông nghiệp Nậm Chày đang đảm nhận vai trò kết nối giữa các hộ sản xuất với thị trường.

Thay vì để từng gia đình tự tìm nguồn giống, tự học kỹ thuật và tự xoay xở đầu ra, HTX hướng tới tập hợp nguồn lực, hỗ trợ sản xuất và hình thành mối liên kết giữa vùng nguyên liệu với khâu thu mua, chế biến.

Chuỗi Giá Trị Gừng Nậm Chày

Giải pháp tổ chức sản xuất hàng hóa giải quyết bài toán rủi ro phân tán của hộ nông dân vùng cao

0 Ha Vùng Trồng Hiện Có

Quy mô bước đầu chứng minh lợi thế canh tác và thị trường; định hướng phát triển đồng bộ giữa mở rộng diện tích với tổ chức sản xuất và bao tiêu đầu ra.

Nông hộ
Góp Đất & Lao Động
  • Tập trung canh tác trên diện tích nương rẫy gia đình.
  • Tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật được chuyển giao.
  • Không phải tự lo tìm đầu mối tiêu thụ nhỏ lẻ.
Hợp Tác Xã
Tập Hợp & Kết Nối
  • Cung ứng nguồn giống đồng đều, đạt chuẩn chất lượng.
  • Tổ chức thu mua tập trung, duy trì vùng nguyên liệu ổn định.
  • Phát triển các dòng chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng.
Giá Trị Mang Lại
Giảm Thiểu Rủi Ro
  • Hạn chế tình trạng biến động giá ép giá theo mùa vụ.
  • Đảm bảo tính liên tục của nguồn cung đối với đối tác tiêu thụ.
  • Chuyển hóa lợi thế đất và sức lao động thành thu nhập thực tế.
Vai trò của Chính quyền địa phương xã Nậm Chày: Hỗ trợ định hướng vùng quy hoạch sản xuất tập trung, chuyển giao kỹ thuật trồng trọt và kết nối các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, tránh mở rộng diện tích theo phong trào thiếu kiểm soát.

Theo ông Hầu A Dính, Giám đốc HTX Nậm Chày, nếu chỉ tiêu thụ gừng tươi, giá trị sản phẩm phụ thuộc nhiều vào diễn biến thị trường ở từng thời điểm. Vì vậy, HTX xác định cần xây dựng chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ.

Người dân có đất đai, công lao động; HTX hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật, thu mua và tìm kiếm đầu ra. Khi nguồn nguyên liệu được duy trì ổn định, HTX mới có điều kiện tổ chức chế biến thành những sản phẩm có giá trị cao hơn.

Cách làm này phản ánh một chức năng quan trọng của kinh tế tập thể tại địa bàn khó khăn, không thay thế vai trò sản xuất của hộ gia đình, mà tổ chức các hộ thành lực lượng có khả năng tham gia thị trường tốt hơn.

Một hộ nông dân đơn lẻ thường khó đáp ứng đồng thời yêu cầu về sản lượng, chất lượng, sơ chế và tính liên tục của nguồn cung. Khi được kết nối trong một mô hình HTX, các hộ có thêm đầu mối hướng dẫn kỹ thuật, tập hợp sản phẩm và tiếp cận khâu tiêu thụ.

Đối với người dân vùng dân tộc thiểu số và miền núi, ý nghĩa của liên kết càng rõ nét bởi nguồn lực đầu tư thường hạn chế, khả năng tiếp cận thông tin thị trường và công nghệ chế biến chưa đồng đều.

Nếu phải tự gánh toàn bộ rủi ro từ sản xuất đến tiêu thụ, nhiều hộ khó mạnh dạn chuyển đổi hoặc mở rộng quy mô. Sự tham gia của HTX giúp giảm bớt những trở ngại đó, tạo điều kiện để người dân sử dụng đất đai và lao động hiệu quả hơn.

Các sản phẩm chế biến từ gừng Nậm Chày
Các dòng sản phẩm chế biến sâu từ củ gừng mở rộng chuỗi giá trị và kéo dài thời gian thương mại hóa nông sản.

Từ củ gừng tươi đến sản phẩm OCOP

Một hướng đi đáng chú ý của HTX Nậm Chày là phát triển chế biến nhằm nâng cao giá trị nông sản. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào việc bán củ gừng tươi theo mùa vụ, nguyên liệu được sử dụng để sản xuất mứt gừng, gừng ngâm mật ong và trà gừng.

Các sản phẩm này đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao của tỉnh Lào Cai, tạo nền tảng ban đầu để nông sản địa phương tiếp cận thị trường với hình thức và giá trị khác so với nguyên liệu thô.

Hành Trình Nâng Hạng Giá Trị: Gừng Thô Sang Sản Phẩm OCOP

3 sản phẩm chế biến đạt chứng nhận OCOP 3 sao mở ra cơ hội tiếp cận thị trường quanh năm

Chứng Nhận OCOP 3 Sao
Hội Đồng Đánh Giá & Phân Hạng OCOP Tỉnh Lào Cai
GỪNG TƯƠI Nguyên liệu • Bán theo mùa vụ HTX CHẾ BIẾN Sau thu hoạch • Ổn định nguồn cung 3 DÒNG OCOP Xếp hạng 3 Sao • Mứt • Mật ong • Trà
Trà Gừng Nậm Chày
OCOP 3 Sao Lào Cai

Thức uống thảo dược ấm vị, tiện bảo quản và sử dụng; tiếp cận phân khúc tiêu dùng chăm sóc sức khỏe quanh năm.

Gừng Ngâm Mật Ong
OCOP 3 Sao Lào Cai

Kết hợp hương vị dược tính gừng bản địa với mật ong; gia tăng giá trị thương phẩm cao hơn nhiều lần so với gừng thô.

Mứt Gừng Nậm Chày
OCOP 3 Sao Lào Cai

Sản phẩm truyền thống vị cay ngọt đặc trưng; giải pháp kéo dài thời gian lưu trữ nguyên liệu và mở rộng thị trường lễ tết.

Kéo Dài Chu Kỳ Sử Dụng

Giải thoát người nông dân khỏi áp lực phải bán củ tươi ồ ạt trong thời điểm chính vụ thu hoạch.

Nâng Cao Giá Trị Thặng Dư

Mở rộng hoạt động kinh tế ở khâu sau thu hoạch, giúp nâng giá trị nông sản vùng cao lên tầm thương hiệu.

Tạo Việc Làm Ổn Định

HTX tính toán lượng nguyên liệu và công suất ổn định, tạo việc làm và hạn chế nguy cơ tái nghèo cho bà con.

Chế biến giúp kéo dài khả năng sử dụng nguyên liệu, đa dạng hóa sản phẩm và mở thêm cơ hội tiêu thụ. Quan trọng hơn, quá trình này tạo ra nhu cầu tổ chức sản xuất ổn định hơn, bởi HTX phải tính toán lượng nguyên liệu cần thiết, chất lượng đầu vào và năng lực chế biến. Cây gừng vì vậy không chỉ mang lại thu nhập từ diện tích canh tác, mà còn mở ra hướng phát triển hoạt động kinh tế ở khâu sau thu hoạch.

Từ câu chuyện cây gừng ở Nậm Chày có thể thấy, phát triển kinh tế tại các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là lựa chọn cây trồng phù hợp, mà còn là quá trình tổ chức lại phương thức sản xuất.

Một loại cây có hiệu quả kinh tế tốt sẽ khó tạo ra thay đổi lâu dài nếu người dân vẫn sản xuất phân tán, thiếu thông tin và không có đầu ra ổn định. Ngược lại, khi được đặt trong chuỗi liên kết có sự tham gia của HTX, lợi thế về đất đai và lao động mới có cơ hội chuyển hóa thành thu nhập thực tế.

Đối với Nậm Chày, yêu cầu trước mắt là phát triển vùng gừng theo khả năng thích nghi của điều kiện tự nhiên và năng lực tiêu thụ, tránh mở rộng diện tích theo phong trào.

Người dân cần được hướng dẫn quy trình canh tác, lựa chọn giống, sử dụng vật tư hợp lý và phòng trừ sâu bệnh.

HTX cần từng bước nâng cao năng lực quản trị, xây dựng kế hoạch thu mua, phát triển sản phẩm chế biến và tìm kiếm các kênh phân phối phù hợp.

Chính quyền địa phương có thể hỗ trợ định hướng vùng sản xuất, chuyển giao kỹ thuật và kết nối các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể.

Quá trình củng cố HTX cũng cần gắn với lợi ích cụ thể của thành viên. Khi có cơ chế hợp tác rõ ràng, người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định và lợi ích được phân chia minh bạch, HTX sẽ có nền tảng để phát triển lâu dài.

Với những thôn, xã đặc biệt khó khăn, địa bàn biên giới, an toàn khu và vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, HTX còn có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một mô hình kinh doanh. Đây là đầu mối tập hợp các hộ nhỏ lẻ, tạo cơ hội tiếp cận kỹ thuật, thị trường và việc làm; qua đó góp phần cải thiện sinh kế, hạn chế nguy cơ tái nghèo và khai thác tốt hơn tiềm năng kinh tế tại chỗ.

“
“HTX là đầu mối tập hợp các hộ nhỏ lẻ, tạo cơ hội tiếp cận kỹ thuật, thị trường và việc làm; qua đó góp phần cải thiện sinh kế, hạn chế nguy cơ tái nghèo và khai thác tốt hơn tiềm năng kinh tế tại chỗ.”
e-Magazine / VNBUSINESS
Tạp chí Kinh Doanh