Longform
CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LIÊN MINH HTX VIỆT NAM LẦN THỨ VII

TỪ LUỐNG RAU NGOÀI TRỜI ĐẾN GẦN 100 HA NHÀ KÍNH CỦA
HTX HIỀN THI

Ở vùng Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, có một HTX từng khởi đầu bằng những luống rau truyền thống trồng ngoài trời vì không đủ vốn làm gì khác. Gần 10 năm sau, HTX Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Hiền Thi đứng sau gần 100 ha nhà kính, doanh thu gần 10,9 tỷ đồng và một quan điểm hiếm gặp – tiêu chuẩn chỉ có giá trị khi đo được bằng con số.

Toàn cảnh hệ thống nhà kính nông nghiệp công nghệ cao tại Lâm Đồng
2017 Năm thành lập
~100 ha Nhà kính liên kết
~10,9 tỷ Doanh thu đạt được
9–10 triệu đồng Thu nhập/tháng
....

HTX Hiền Thi thành lập năm 2017, xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của bà con nông dân tại huyện Lạc Dương (cũ), tỉnh Lâm Đồng, hoạt động ở nhiều khâu – trồng trọt, cung ứng vật tư đầu vào, tổ chức sản xuất, thu mua, sơ chế, đóng gói và tiêu thụ nông sản.

Sau gần 10 năm, HTX có 27 thành viên và 40 hộ nông dân liên kết, tổng diện tích sản xuất gần 100 ha nhà kính trồng các loại rau, củ, quả đặc trưng của Lâm Đồng. Tính đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 10,3 tỷ đồng, doanh thu gần 10,9 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động địa phương với thu nhập bình quân 9–10 triệu đồng mỗi tháng.

PHẦN 01

BƯỚC NGOẶT
MANG TÊN NHÀ KÍNH

Khởi đầu của Hiền Thi không thuận lợi. Vốn ít, đầu ra chưa ổn định, HTX chỉ có thể tổ chức cho bà con trồng ngoài trời những loại rau truyền thống, dễ trồng. Nhưng năng suất và hiệu quả đều không đạt kỳ vọng.

Đứng trước ngã rẽ ấy, HTX chọn cách khó hơn – mạnh dạn vay vốn, vận động bà con cùng đầu tư làm nhà kính, ứng dụng máy móc và tham gia chương trình khuyến nông chuyển giao công nghệ trồng rau công nghệ cao. Vận động nông dân bỏ tiền túi vào một mô hình chưa từng làm chỉ có thể thành công khi HTX đã tạo được niềm tin trước đó.

Đến nay, HTX có 19,5 ha rau sản xuất trong nhà kính, bên cạnh khoảng 40 hộ liên kết với diện tích 80–100 ha. Toàn bộ đều áp dụng quy trình canh tác tiên tiến, sử dụng giống mới chất lượng cao, trồng rau trên giá thể, lắp đặt hệ thống tưới phun sương và tưới nhỏ giọt giúp tiết kiệm nước, hạn chế xói mòn đất.

Một khâu ít được nhắc tới nhưng lại được HTX đầu tư bài bản là vườn ươm. Để chủ động nguồn cây giống cho thành viên và hộ liên kết, HTX trang bị máy đo nhiệt độ tự động kết nối điện thoại, máy gieo hạt, máy xay đất, máy vào vỉ đất. Theo tính toán của HTX, nhóm thiết bị này giúp giảm khoảng 50% chi phí nhân công và thời gian lao động, đồng thời nâng cao chất lượng cây giống.

Con số ấy có ý nghĩa lớn hơn vẻ ngoài của nó. Cây giống là điểm khởi đầu của mọi vụ rau; giống đồng đều thì cả vùng nguyên liệu mới đồng đều, và chỉ khi đó siêu thị mới nhận hàng theo tiêu chuẩn.

Từ năm 2021, HTX bắt đầu chuyển đổi có hệ thống – từ sản xuất truyền thống sang tổ chức sản xuất theo kế hoạch, theo tiêu chuẩn và theo chuỗi giá trị; đầu tư kho xưởng, máy móc, phương tiện. Kết quả là doanh thu tăng 10–20%, diện tích liên kết mở rộng, và quan trọng nhất, HTX chủ động được đầu ra, tự chủ trong định giá và ký kết các hợp đồng lớn.

HÀNH TRÌNH TỪ LUỐNG RAU ĐẾN NHÀ KÍNH

Tiến trình chuyển dịch mô hình và các chỉ số kinh tế then chốt của HTX Hiền Thi

1
Trồng ngoài trời Vốn ít, rau truyền thống
2
Vay vốn & Khuyến nông Tạo niềm tin, chuyển giao kỹ thuật
3
Đầu tư Nhà kính Quy mô lớn, trồng giá thể
4
Công nghệ cao Tưới nhỏ giọt & phun sương
5
Vườn ươm tự động Giảm 50% chi phí lao động
2017
Năm thành lập
Khởi nguồn từ Lạc Dương
27
Thành viên
Nòng cốt quản trị HTX
40
Hộ liên kết
Sản xuất theo quy chuẩn
~100
Héc-ta (ha)
Tổng diện tích nhà kính
19,5
Héc-ta (ha)
HTX trực tiếp sản xuất
10,3
Tỷ đồng
Nguồn vốn (cuối 2025)
~10,9
Tỷ đồng
Doanh thu đạt được
20
Lao động
Việc làm thường xuyên
910
Triệu đồng/tháng
Thu nhập bình quân
~50%
Chi phí & thời gian
Giảm nhờ vườn ươm tự động
THIẾT BỊ ĐẦU TƯ ĐỒNG BỘ: Nhà kính công nghệ cao Luống rau trên giá thể Tưới nhỏ giọt & phun sương Máy gieo hạt & xay đất Máy vào vỉ đất Cảm biến nhiệt độ IoT kết nối điện thoại
PHẦN 02

TIÊU CHUẨN CHỈ CÓ Ý NGHĨA
KHI ĐO ĐƯỢC

Chuỗi khép kín của Hiền Thi được phân vai rành mạch. Doanh nghiệp hỗ trợ đầu ra và định hướng thị trường. HTX lập kế hoạch, điều hành sản xuất theo quy chuẩn chung, hỗ trợ kỹ thuật, thu mua và đóng gói. Các hộ nông dân sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật HTX đưa ra.

Trên nền đó, HTX áp dụng quy trình VietGAP, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng tem truy xuất nguồn gốc điện tử và sơ chế, chế biến theo tiêu chuẩn HACCP. Chuỗi liên kết an toàn thực phẩm tạo ràng buộc chặt chẽ hơn giữa hộ sản xuất và cơ sở sơ chế, từ đó nâng cao chất lượng và tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Nhưng điều đáng chú ý nhất ở Hiền Thi không phải là danh mục chứng nhận, mà là cách HTX nhìn nhận chính những chứng nhận đó. Từ thực tế triển khai, HTX xác định tiêu chuẩn chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển thành quy trình kiểm soát hằng ngày và có kết quả đo lường cụ thể.

Vì vậy, thay vì dừng lại ở việc có chứng nhận hay có thiết bị, HTX sẽ đánh giá hiệu quả bằng các chỉ tiêu đo đếm được – tỷ lệ hàng đạt yêu cầu, tỷ lệ hao hụt, chi phí sơ chế và đóng gói, thời gian xử lý đơn hàng, mức độ đáp ứng yêu cầu của từng khách hàng. Đây là tư duy quản trị hiếm gặp ở quy mô HTX.

CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA HTX HIỀN THI

Mô hình liên kết khép kín, phân bổ thị trường và bộ chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản trị

01Doanh nghiệp
02HTX Hiền Thi
03Hộ nông dân
04Sản xuất quy trình
05Thu mua
06Sơ chế
07Đóng gói
08Tiêu thụ
VietGAP Kiểm soát dư lượng BVTV Tem truy xuất điện tử Tiêu chuẩn HACCP Quản trị bằng dữ liệu

Cơ cấu thị trường tiêu thụ

TP. Hồ Chí Minh 60%
Miền Bắc, Miền Trung & Tây Nguyên 30%
Các tỉnh Nam Bộ 10%

5 Chỉ tiêu đo đếm hiệu quả quản trị

1 Tỷ lệ hàng đạt yêu cầu
2 Tỷ lệ hao hụt
3 Chi phí sơ chế và đóng gói
4 Thời gian xử lý đơn hàng
5 Mức độ đáp ứng khách hàng

Hiện 60% sản phẩm của HTX về TP. Hồ Chí Minh, 10% đi các tỉnh Nam Bộ, phần còn lại tới miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. HTX hướng đến xuất khẩu khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Những chuyển động ấy để lại kết quả cụ thể. Sản phẩm có thương hiệu nên được thị trường đón nhận; thu nhập và đời sống của thành viên, người lao động được nâng lên; nông dân chuyển từ tư duy sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo quy mô, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế. HTX cũng tham gia công tác an sinh xã hội tại địa phương, tạo việc làm cho lao động địa phương và góp phần hình thành vùng nông nghiệp công nghệ cao.

HTX không giấu những trở ngại còn lại. Công tác vận động bà con tham gia HTX ở vùng sâu, vùng xa vẫn khó do ảnh hưởng của mô hình HTX kiểu cũ. Hợp đồng liên kết đã có nhưng chưa bền vững – vấn đề chung của cả ngành nông sản, không riêng Hiền Thi. Bên cạnh đó là khó khăn huy động vốn khi chi phí nhà kính, nhà lưới, kho lạnh đều cao hơn hẳn sản xuất truyền thống, giá vật tư tăng và sự cạnh tranh từ sản phẩm không rõ nguồn gốc.

Cho giai đoạn 2026–2031, HTX xác định các nhóm giải pháp trọng tâm – vận động để củng cố vùng trồng quy mô lớn và nâng cao tính đồng đều của nguyên liệu; đẩy mạnh khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong sản xuất và quản trị; xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp, HTX bạn và tổ chức tín dụng, chuẩn bị điều kiện xuất khẩu; gắn phát triển HTX với Chương trình OCOP, nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất xanh.

01

Củng cố vùng trồng quy mô lớn

Vận động mở rộng và nâng cao tính đồng đều nguyên liệu.

02

Khoa học công nghệ & CĐS

Đẩy mạnh công nghệ số trong sản xuất và quản trị.

03

Xúc tiến thương mại & Tín dụng

Kết nối doanh nghiệp, HTX bạn và các nguồn vốn.

04

Chuẩn bị điều kiện xuất khẩu

Đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

05

OCOP & Nông nghiệp xanh

Gắn với nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất xanh.

SẢN XUẤT THEO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG, KIỂM SOÁT BẰNG TIÊU CHUẨN, QUẢN TRỊ BẰNG DỮ LIỆU, LIÊN KẾT BẰNG TRÁCH NHIỆM, PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG XANH VÀ BỀN VỮNG.

Với một HTX đi lên từ những luống rau ngoài trời, đó không phải khẩu hiệu, mà là bản mô tả chính xác con đường họ đã đi.